Cuộc đời thi sĩ “Đưa em tìm Động Hoa Vàng” Phạm Thiên Thư quái lạ thế nào?
Cây xưa vẫn gầy,
Phơi nghiêng dáng đỏ.
Thập niên 60 Phạm Thiên Thư tham gia nhóm Văn chương của Phạm Kiều Tùng, Nguyễn Nghiệp
Nhượng, Nguyễn Tiến Văn không có gì nổi bật lắm, nhưng để “trốn” quân dịch Phạm Thiên Thư nương
cửa Phật mặc áo cà sa, chuyển bản dịch Kinh Kim Cang thành thơ lục bát, nhà chùa thấy “ông sư trốn
quân dịch” Phạm Thiên Thư có tài thơ đã trọng dụng; đúng lúc này Phạm Thiên Thư gặp nữ sĩ Tuệ Mai ái
nữ của thi sĩ Á Nam Trần Tuấn Khải và được nhà thơ nữ này ưu ái “hết mình” thế là Phạm Thiên Thư tuy
mặc áo cà sa nhưng lại làm thơ tình những bài Ngày Xưa Hoàng Thị, Lên Non Tìm Động Hoa Vàng ra
đời trong dịp này cùng tập Đoạn Trường Vô Thanh.
Phạm Thiên Thư
Con người Phạm Thiên Thư là con người luôn sống theo cái qui luật của câu tục ngữ dân gian “thứ nhất là
tu tại gia, thứ hai tu chợ, thứ ba tu chùa ” nên mặc áo cà sa 19 năm [từ năm 1964 tới năm 1975] thì cởi áo
cà sa ra lấy vợ cưới con gái nhà văn Hoàng Ly Trương Linh Tử một nhân vật thuộc loại “nòi tình” ở với
nhau được mấy đứa con thì “bỏ” chạy theo một nữ nha sĩ và mở quán cà phê Hoa Vàng.
Trong thời gian “tu tại gia” Phạm Thiên Thư “sáng tác” ra phương pháp chữa bệnh bằng nhân điện mệnh
danh là “Phathata” [Pháp thân tâm]; ông luyện công chữa bệnh thế nào đến mất trí nhớ luôn, điên điên
khùng khùng may nhờ một thầy lang trùng tên họ với ông đó là thầy lang Phạm Kim Long xem mạch hốt
thuốc chữa cho ông lành bệnh.
Lành bệnh rồi Phạm Thiên Thư bắt đầu sản xuất những thứ thuốc như Cao Tiên Dung và quảng cáo 1 thứ
dầu cù là có tên là Cao Tiên Dung với những câu thơ như sau: “Nâng hộp cao tiên đi cứu khổ Đã nghe
trần mộng nở toàn hoa”
Ngoài chuyện sản xuất dầu cù là, bán cà phê ra Phạm Thiên Thư còn làm Tự điển cười để “quảng bá Tiếu
liệu pháp cười vui chữa bệnh”.
Tự điển cười của Phạm Thiên Thư mới chỉ ba chữ ABC in ra đã 500 trang. Ngoài tự điển Cười ra Phạm
Thiên Thư còn soạn Tư điển Ý đẹp với mười ngàn câu; có những câu khá ngộ nghĩnh như “Biết dốt sẽ lột
thành hay”, “Có biến mới chuyển thành hay” và hoàn thành tập thơ với tựa đề Tân Ngôn mười ngàn câu.
Có người cho rằng “hiện tượng” Phạm Thiên Thư giống như hiện tượng Vô Thượng sư Thanh Hải nhưng
Phạm Thiên Thư ít đệ tử hơn Thanh Hải; tuy nhiên hơn Thanh Hải ở chỗ không “buôn thần bán thánh”
chỉ “cợt nhả” với chữ nghĩa thôi.
Phạm Thiên Thư ăn mày cửa Phật rồi phá giới lấy vợ đẻ con nhưng luôn miệng tụng câu tục ngữ “Thứ
nhất là tu tại gia, thứ hai tu chợ thứ ba tu chùa” tự cho rằng mình không phá giới ma đã chọn con đường
tu khó nhất: tu tại gia.
Trên đời này làm được vài câu thơ hay đã “hiếm” rồi huống chi Phạm Thiên Thư lại làm được tới mấy bài
thơ hay chúng ta phải trọng chứ.
Cuối thế kỷ hai mươi trên thi đàn Việt Nam có ít nhất ba nhà thơ đầu óc không “bình thường” đó là Bùi
Giáng, Phạm Thiên Thư và Nguyễn Đức Sơn nhưng văn chương thì mỗi người mỗi vẻ, còn sống thì có lẽ
Phạm Thiên Thư là người “tỉnh” nhất trong 3 người không bình thường này.
Tôi còn nhớ cuối thế kỷ hai mươi trong một lần tâm sự với tôi, mẹ vợ Phạm Thiên Thư là bà Hoàng Ly
Trương Linh Tử đã quả quyết với tôi rằng Phạm Thiên Thư là một con người nhiều mặt dám “qua mặt”
cả Phật lẫn thầy; con gái bà đã ăn phải “bùa mê thuốc lú” mới đi lấy Phạm Thiên Thư. Phạm Thiên Thư
“thôi” con gái bà, bà rất mừng.
Những người đọc qua bản thảo tập Tân Ngôn của Phạm Thiên Thư đều ca thán với tôi rằng Phạm Thiên
Thư đang muốn dùng “lời” để làm một cuộc “cứu rỗi”; tôi đã nói với những người này rằng người làm
thơ thua gì “đấng” sáng tạo đâu, chúng ta hãy ngả mũ chào Tân Ngôn của Phạm Thiên Thư.
Hồ Nam
GẶP LẠI PHẠM THIÊN THƯ SAU 25 NĂM
Một buổi sáng tháng đầu tháng 9 năm 1981, Hoàng Văn Giang (1) đạp xe xuống rủ tôi đi uống cà phê.
Hai thằng tôi đạp xe từ Ngã Ba Ông Tạ trên đường Lê Văn Duyệt nối dài (sau 75 VC đổi là Cách Mạng
Tháng về hướng Hoà Hưng định ghé quán café của Tô Duy Khiêm do Chu Vương Miện trông coi ở
Hoà Hưng.
Trên đường vừa đi, vừa trò chuyện; như chợt nhớ ra điều gì, Giang nói với tôi:
– Hay là mình ghé đến quán café của Phạm Thiên Thư trên đường Yên Đổ; tiện thể thăm hắn luôn.
– Phải đấy! Lâu quá không gặp họ Phạm nên ghé thăm nhà thơ Động Hoa Vàng xem sao.
Khi đi ngang quán café của Chu tiên sinh, tôi nhìn thấy Tô Duy Khiêm và Phan Lạc Giang Đông đang
ngồi trong quán. Vì đã có chủ đích đi thăm Phạm Thiên Thư nên hai thằng tôi đạp xe đi thẳng .
Chúng tôi ngừng xe ở gần góc đường Yên Đổ (VC đã đổi thành Lý Chính Thắng) và Hai Bà Trưng, dựng
xe ở một gốc cây đầy hoa màu vàng, đã thấy Phạm Thiên Thư chạy ra tận cửa đón chúng tôi vào quán.
Quán cà phê (không có tên) là một căn nhà nhỏ nằm quay mặt ra đường Yên Đổ gần phía hẻm Bến Tắm
Ngựa; Phạm thuê của một bà Dược sĩ, nhìn vẻ tối tăm, nhếch nhác; lỏng chỏng mấy chiếc bàn thấp lè tè,
bên trong quán chai lọ, bình rượu ngâm thuốc xếp lộn xộn trên ke .
Chúng tôi ngồi ở cái bàn sát tường ngay chỗ lối ra vào. Phạm Thiên Thư đứng trong quầy pha cà phê từ
trong một cái túi đen đuá; loại cà phê dân uống cà phê hay gọi bình dân là cà phê bít tất. Ở Sàigòn ngày
xưa có cà phê Năm Dưỡng ở Bàn Cờ cũng chuyên bán cà phê bít tất nhưng rất ngon và rất đông khách.
Sau khi bưng ra bàn 2 ly cà phê đá, Phạm quân ngồi xuống trò chuyện với chúng tôi. Tôi hỏi:
Ông mở cái quán này bao lâu rồi? Bán buôn có khá không? (Hỏi vậy thôi, chứ tôi nghĩ là không khá vì
thấy quán vắng teo nên biết là không khá).
– Cũng được vài năm nay. Thời buổi bây giờ khó khăn lắm. Cái gì cũng tổ hợp, cũng hợp tác xã, cũng
phân phối…Người dân sau 75 lại cùng đói khổ như nhau nên ai cũng mở ra buôn bán lặt vặt; ai cũng
nghèo xơ xác, nên đâu có nhiều khách! Phạm nói.
Sau đó Phạm quân hăng say nói với chúng tôi về Đại Trường Ca Việt Nam mà Phạm Thiên Thư viết để
ca ngợi chiến thắng giành độc lập và thống nhất đất nước của những người cộng sản. Phạm nói với chúng
tôi: “…đó là chiến thắng có một không hai trong lịch sử và Phạm rất hãnh diện được chứng kiến. Nước
nhà đã độc lập thống nhất và thoát khỏi sự nô lệ và o ngoại bang…” Phạm trả lời rất thuộc bài, nói vanh
vách những điều bọn VC đã bắt mọi người phải nói thuộc lòng như con vẹt lập lại những gì người ta
muốn nó nói.
Sau ngày 30/4/1975, toàn thể nhân dân từ Nam ra Bắc, từ thành thị đến nông thôn, từ rừng sâu núi thẳm
cho chí đến những hải đảo xa xôi, từ trung ương cho đến các địa phương thôn làng, xóm ấp… người dân
trở thành những con vẹt chỉ biết lập lại những điều đảng nói. Anh nào dại dột nói khác với đảng thì sẽ bị
quy chụp những tội tầy trời như: phản động, âm mưu chống đối đảng, âm mưu phản cách mạng v.v… và
tương lai là lao tù đầy đoạ ở các vùng rừng thiêng nước độc, cưỡng bách lao động không có ngày về hoặc
phải chết mất xác trong rừng sâu .
Tôi cười thầm trong bụng về cái sự ngây thơ của một anh thầy tu trốn lính, khi nói là ngày nay đã không
còn bị ngoại bang nô lệ. Anh ta đã không nhìn thấy những người cộng sản VN đã nô lệ Nga Tàu còn hơn
bất kỳ thứ nô lệ nào trên đời. Chúng đã khiêng cái chủ thuyết ngoại lai vô nhân về tròng cái ách ấy lên
đầu lên cổ nhân dân, dùng những thủ đoạn hèn hạ, khát máu để khống chế người dân vô tội; tước đoạt
mọi thứ quyền của con người mà cái quyền tối thiểu là quyền sống, quyền làm người cũng bị chúng dìm
xuống tận đáy sâu điạ ngục đỏ
Tôi khẽ đá vào chân Hoàng Văn Giang để đang ai có phản ứng gay gắt vì e bất lợi. Dưới sự cai trị bạo tàn
của cộng sản Việt Nam, có rất nhiều cạm bẫy mà chỉ cần sơ sẩy sẽ ân hận cả đời. Chúng tôi là những
người đã có thừa kinh nghiệm tù đày trong lao tù cộng sản nên cần phải đề cao cảnh giác.
Nhưng tôi vẫn nói với Phạm Thiên Thư là: “Chuyện đó nên để cho lịch sử phê phán, mình là người cầm
bút, làm thơ nên sống với những sự thật và đừng để lôi cuốn vào sự lừa dối. Khi nào ông viết xong, chúng
tôi sẽ được đọc một đại tác phẩm để đời của ông. Bây giờ bỏ mấy cái chuyện chính trị chính em đó sang
một bên mà hãy nói chuyện văn nghệ hoặc đời sống của ông ra sao.”
Phạm Thiên Thư lại đổi đề tài sang chuyện chữa bệnh bằng nhân điện và họ Phạm đã tìm ra một loại sâm
đặc biệt ngâm vào rượu uống trị được bách bệnh được ông đặt tên là rượu Hồng Sâm. Vừa nói, Phạm vừa
lôi một bình rượu lớn, bên trong có ngâm mấy loại củ trông giống như củ khoai từ, định rót cho chúng
tôi.Nhưng cả tôi lẫn Hoàng Văn Giang đều cản lại vì giữa trưa nóng nực không ai trong chúng tôi muốn
uống rượu.
Thấy nói chuyện với họ Phạm toàn những chuyện vớ vẩn và nhạt nhẽo, tôi và Giang đứng dậy từ giã ra về
và để tiền trên bàn thanh toán cà phê. Ve nhà, tôi vẫn còn ấm ức về những chuyện với họ Phạm, nên lấy
giấy viết mấy câu thơ trách móc nhẹ nhàng:
GỬI PHẠM THIÊN THƯ
(Để nhớ lúc gặp Phạm Thiên Thư năm 1981 tại quán cà phê góc dường Yên Đổ và Hai Bà Trưng)
Bởi chưng xưa “gã từ quan”
Ngày nay ngồi ngắm hoa vàng mung lung
Xót trang bi sử ngượng ngùng
Thất phu thẹn với tang bồng nổi trôi
Mấy năm vật đổi sao dời
Hoài thân lận đận, vẫn đời hoang mang
Trước sân dăm cánh hoa vàng
Ngậm ngùi thế sự, ngàn hàng lệ sa
(Thơ Vũ Uyên Giang – 1981)
Tôi định bụng hôm nào rảnh rang sẽ ghé đưa cho Thư, nhưng tôi không còn cơ hội nữa khi sáng sớm
ngày 8 tháng 10 năm 1981, Huỳnh Bá Thành (tức Thiếu tá công an Ba Trung, tức tên cộng sản nằm vùng
Hoạ sĩ Ớt, chuyên vẽ hí hoạ cho nhật báo Điện Tín của ông Hồng Sơn Đông) dẫn lâu la đến nhà bắt tôi.
Đứng trong sân, nhìn ra thấy chiếc xe Jeep đậu bên kia đường, ngồi cạnh tài xế là Huỳnh Bá Thành, kế
bên Huỳnh phía dưới đất là một tên nhà thơ của Miền Nam mang họ Phan làm chỉ điểm cho Thành.
Hai tên công an tuổi chừng 19, hoặc 20 đi vào nhà và hỏi tôi: Anh có phải là anh Vũ không? Tôi xác nhận
là đúng thì chúng nói thuộc Bảo Vệ Chính Trị 2 của Sở Công An Thành phố, có lệnh bắt tôi. Biết tình thế
nguy hiểm, nên tôi đã phóng chạy bằng ngã sau nhà sau khi xin chúng cho vào nhà mặc áo và rửa tay.
Trốn tránh ở Sài gòn cả tháng rồi vượt biển tìm tự do nên không có cơ hội gặp lại Phạm Thiên Thư để
tặng bài thơ. Sau năm 1975 được nhà nước cộng sản xuất bản một số sách “vớ vẩn” chẳng có giá trị gì
như pho (phải dùng đến chữ pho vì nó rất dầy) sách “Tiếu Liệu Pháp, Tự Điển Cười” gồm các chuyện
cười mà Phạm Thiên Thư góp nhặt được, mới chỉ có 3 mẫu tự ABC đã dày 500 trang; như các pho sách
nói về công dụng của Hồng Sâm và nhân điện và các pho sách nói về Phạm có “công năng” cõi trên cho
để chữa bách bệnh v.v… Những bệnh nan y trên đời mà y giới (kể cả Đông Y lẫn Tây Y) đều chưa tìm ra
cách chữa trị hữu hiệu thì Phạm Thiên Thư đều chữa khỏi như: Ung Thư, Tiểu Đường, Cao Máu v.v…
Ngày 13/4/2006, vừa đặt chân xuống phi trường Tân Sơn Nhất, tôi được nhà thơ Vương Tân (tức ký giả
Hồ Nam) chở đến chỗ hiện nay nhà thơ họ Phạm đang trụ trì ở Quán cà phê Hoa Vàng toạ lạc ở số Y 3
Bis đường Hồng Lĩnh (cư xá Sĩ Quan Chí Hoà cũ). Bà chủ quán cà phê Hoa Vàng ngày nay (hiền thê của
Phạm thi sĩ) chính là bà Dược sĩ chủ nhà nơi họ Phạm thuê mở quán cà phê không tên trên đường Yên Đổ
– Hai Bà Trưng ngày nào. Chắc bà yêu thơ của thi sĩ nên yêu luôn cả thi sĩ?
Ngày ngày người ta sẽ thấy một ông già tóc bạc, vóc dáng nông dân thể hiện rõ nét khi thấy ông mặc
quần ống thấp, ống cao chuyên ngồi trước của quán, vừa trông xe cho khách, vừa phun khói thuốc như
ống khói tàu.
Đôi khi ngồi với khách nói chuyện hoang tưởng về việc được “cõi trên” sai xuống trần cứu nhân độ thế,
về “nhân điện” v.v… Tại đây tôi đã gặp lại những người bạn cũ nhiều năm không gặp như Tô Duy
Khiêm, Trần Ngọc Tự, Kha Thùy Châu, Phổ Đức; mỗi người có những kỷ niệm thời trai trẻ khi cùng
nhau sinh hoạt văn nghệ tại Sàigòn. Ở hải ngoại đã có một thời rộ lên tranh cãi về tác giả bài thơ Ngày
Xưa Hoàng Thị; có người cho rằng bài thơ này của Nguyễn Tất Nhiên; có người cho rằng đó chính là thơ
của Phạm Thiên Thư. Lại có một bà cũng họ Hoàng, chủ nhiệm một tờ báo ở Nam California đã viết trên
báo tự nhận mình chính là Hoàng Thị Ngọ mà Phạm thi sĩ viết thành thơ. Những người biết chuyện chỉ
cười thầm bà họ Hoàng đã là vợ một nhà tho đã thành danh mà không giữ được chồng lại còn vơ vào một
nhà thơ khác làm gì?
Nàng thơ Hoàng Thị Ngọ của Phạm Thiên Thư là một con người thật bằng xương bằng thịt, vóc người
mảnh khảnh với mái tóc xoã vai. Nàng không đẹp lắm nhưng vóc dáng thanh tú, hay mặc áo dài màu
trắng hoặc đen đi học ở Trường Văn Lang bằng xe đạp. Nhà thơ họ Phạm sau khi bị trường Chu Văn An
đuổi học vì kỷ luật đã quay về Văn Lang và gặp nàng thơ Hoàng Thị Ngọ.
Phạm cứ lẽo đẽo đạp xe theo sau nàng không nói năng gì, ôm mối tình câm nín. Có những lần nàng thơ
quay lại mắng anh chàng mũi to, răng vẩu, đen đuá như một anh nông dân chất phác…
Bà Hoàng Thi Ngọ
Ngày qua ngày, thấm thoắt thời gian đã 3 năm trôi qua, Phạm quân áp dụng phương châm “đẹp trai không
bằng chai mặt”; khi nàng thơ thực sự cảm động mối chân tình của họ Phạm để đáp lại mối tình câm nín
của chàng thì cũng chính là lúc họ Phạm xuống tóc quy y cửa Phật làm một thầy tu. Dù chỉ đi tu để trốn
lính…
Và từ đó đời được thưởng thức những áng thơ tình Phạm Thiên Thư viết trong Chuà. Tính từ ngày gặp tôi
nhà thơ họ Phạm ở quán cà phê không tên trên đường Yên Đổ năm 1981 cho đến lần gặp lại năm 2006 tại
Quán Hoa Vàng Y 3 Bis đường Hồng Lĩnh, đã là 25 năm; một phần tư thế kỷ trôi qua với biết bao đổi
thay.
Đến lúc đó tôi mới có cơ hội chép bài thơ Gửi Phạm Thiên Thư cho nhà thơ. Nhân dịp gặp nhau ở Quán
Hoa Vàng của Phạm quân, Bùi Đức Dung đưa cho tôi xem bài thơ viết sau khi đi cải tạo về có nhắc đến
Phạm thi sĩ như sau:
KHI VỀ
Khi về gặp Phạm Thiên Thư,
Thầy lang nửa áo thầy tu nửa chùa
Cầm tay bắt mạch như đuà
Vỗ lưng ta gọi bốn mùa rong chơi
Về toàn gặp chuyện trời ơi,
Chuyện may thì ít, chuyện xui thì nhiều.
Bùi Đức Dung
Hoàn cảnh của Phạm Thiên Thư bây giờ thật đáng tội nghiệp vì dù mang tên là chủ quán Hoa Vàng
nhưng thực sự chỉ có cái hư danh để có ngày hai bữa cơm. Với tiếng tăm của anh, nhất là từ sau ngày
Phạm Duy trở về Việt Nam sinh sống và được hát lại những bài nhạc phổ thơ của Phạm Thiên Thư; khi
được báo chí phỏng vấn, Phạm Duy đã giới thiệu quán Hoa Vàng cua Phạm Thiên Thư nên sinh viên nam
nữ đã kéo đến khá đông. Nhìn thấy nhà thơ họ Phạm cứ phải ngồi vỉa hè trông xe cho khách và phun khói
thuốc lá phì phèo như khói tàu hoả tôi ái ngại cho bạn tôi quá nên đã khuyên Phạm quân nên bỏ dần thuốc
lá vì với tuổi đời gần 70 tuổi đầu, vẫn hút nhiều như vậy không tốt cho sức khoẻ, nhất là anh cũng không
được khoẻ từ sau cái dạo nghiên cứu Pháp Thân Tâm bị tẩu hoả nhập ma đến nay, dường như anh không
còn là một người tỉnh táo mà ngơ ngơ ngáo ngáo như một kẻ trên mây; bằng chứng là khi ký tên tặng
sách, anh cũng quên luôn cả tên Phạm Thiên Thư ghi ra sao; Trần Ngọc Tự phải ghi giúp anh và nói anh
ký tên ở ngay chỗ có ghi sẵn tên. Tâm trí anh cũng lãng đãng khi nhớ khi quên không còn tỉnh tao như lần
tôi gặp trước (dù anh vẫn có vẻ bình thường như mọi người bình thường khác) khi anh cứ luẩn quẩn với ý
nghĩ hoang tưởng là người có “công năng đặc biệt do cõi trên trao cho” để cứu nhân độ thế, để chữa
những bệnh nan y cho thế gian như Ung Thư, bệnh Aids, bệnh Tiểu Đường mà cả Đông Y lẫn Tây Y đều
chưa tìm ra cách chữa trị v.v…
Vũ Uyên Giang
(1) Hoàng Văn Giang, Đại úy Đại Đội trưởng thuộc Sư đoàn 1 Bộ Binh trú đóng ở vùng điạ đầu giới
tuyến ở Vùng I Chiến thuật. Anh thường có bài viết trên Bách Khoa trước năm 1975. Sau ngày
30/4/1975, anh cũng như bao nhiêu quân nhân QLVNCH bị tập trung trong các Trại tù của cộng sản. Thời
gian từ 1978 đến 1981, anh ở tù chung 1 trại K.1 ở Suối Máu Biên Hoà với người viết. Hiện nay anh đang
định cư ở thành phố Chicago, Illinois và viết văn, viết báo, viết sách dưới bút hiệu Việt Dương.
Trích Thơ Phạm Thiên Thư:
ÁO THU
Xưa em phơi áo giữa thu phong
Lá vàng cài lên lụa rực hồng
Nay áo cuốn trôi về thiên cổ
Lá vàng bay lạnh nỗi niềm không
Đôi nét về Phạm Thiên Thư:
PHẠM THIÊN THƯ tên thật Phạm Kim Long. Sinh tại Hải Phòng, năm Canh Thìn 1940;
Nguyên quán: Kiến Xương, Thái Bình.
Thi phẩm đã xuất bản: – Qua Suối Mây Hồng (tức Kinh Ngọc – thi hóa Kinh Kim Cương) – Động Hoa
Vàng – Đoạn Trường Vô Thanh – Ngày Xưa Người Tình – Hội Hoa Đàm (tức Kinh Hiền gồm 12.000 câu
lục bát – thi hóa Kinh Hiền Ngu) – Quyên Từ Độ Bỏ Thôn Đoài – Suối Nguồn Vi Diệu (tức Kinh Thơ –
thi hóa Kinh Pháp Cú) – Trại Hoa Đỉnh Đồi.
Phạm Thiên Thư và”Ngày xưa Hoàng thị”
tuoitre.com.vn – 21:31 26-11-2005
Nhà thơ Phạm Thiên Thư
Với nhiều người thì Ngày xưa Hoàng thị (kể cả thơ lẫn nhạc) từng là một tuyệt tác. Nhưng với chính nhà
thơ Phạm Thiên Thư thì “đó chỉ là những kỷ niệm dĩ vãng, mối tình thoảng nhẹ vu vơ của thời trai
trẻ”.Quê ông ở Kiến Xương- Thái Bình nhưng ông sinh ra ở Lạc Viên- Hải Phòng. Năm 1954, khi mới 14
tuổi, ông theo cha mẹ di cư vào miền Nam, ngụ tại căn nhà gần khu Tân Định- Sài Gòn.
“Tôi vẫn nhớ tới căn nhà những ngày ấy, đó là một căn nhà nhỏ nằm đằng sau chợ Tân Định. Cha tôi xin
cho tôi học tại trường Trung học Văn Lang cách nhà chừng non một cây số. Tôi đã học hết tú tài ở đó”.
Ông nhớ lại: Cũng trong những năm học tú tài này, ông đã để ý một cô bạn học cùng lớp tên là Hoàng Thị
Ngọ, cô gái đó quê gốc Hải Dương, ở gần nhà ông. Nhưng chỉ là để ý thôi chứ không dám ngỏ lời.
Ngày xưa Hoàng thị
Em tan trường về
Đường mưa nho nhỏ
Chim non giấu mỏ
Dưới cội hoa vàng
Bước em thênh thang
Áo tà nguyệt bạch
Ôm nghiêng cặp sách
Vai nhỏ tóc dài
Anh đi theo hoài
Gót giày thầm lặng
Đường chiều úa nắng
Mưa nhẹ bâng khuâng
Em tan trường về
Cuối đường mây đỏ
Anh tìm theo Ngọ
Dáng lau lách buồn
Tay nụ hoa thuôn
Vương bờ tóc suối
Tìm lời mở nói
Lòng sao ngập ngừng
Lòng sao rưng rưng
Như trời mây ngợp
Hôm sau vào lớp
Nhìn em ngại ngần
Em tan trường về
Đường mưa nho nhỏ
Trao vội chùm hoa
Ép vào cuốn vở
Thương ơi! Vạn thuở
Biết nói chi nguôi
Em mỉm môi cười
Anh mang nỗi nhớ
Hè sang phượng nở
Rồi chẳng gặp nhau
Ơi mối tình đầu
Như đi trên cát
Bước nhẹ mà sâu
Mà cũng hòa mau…
Tưởng đã phai màu
Đường chiều hoa cỏ
Mười năm rồi Ngọ
Tình cờ qua đây
Cây xưa vẫn gầy
Phơi nghiêng dáng đỏ
Áo em ngày nọ
Phai nhạt mấy màu
Chân theo tìm nhau
Còn là vang vọng
Đời như biển động
Xóa dấu ngày qua
Tay ngắt chùm hoa
Mà thương mà nhớ
Phố ơi! Muôn thuở
Giữ vết chân tình
Tìm xưa quẩn quanh
Ai mang bụi đỏ
Dáng ai nho nhỏ
Trong cõi xa vời.
Tình ơi!… Tình ơi!…
Hàng ngày, khi xếp hàng vào lớp, cô gái đứng ở đầu hàng bên nữ, nổi bật, mái tóc dài xoã trên bờ vai
mảnh dẻ. Ông chỉ im lặng ngắm nhìn. Rồi khi tan trường, cô gái một mình trên đường về nhà, ông lại là
kẻ lẽo đẽo theo sau.“Cô ấy ôm cặp đi trước, tôi đi theo nhưng không dám lên tiếng. Trong bóng chiều tà,
ánh nắng hắt qua hàng cây, cô ấy lặng lẽ bước, gây cho tôi những cảm xúc bâng khuâng khó tả. Cứ thế,
tôi chỉ biết lặng lẽ đi theo sau cô ấy hàng ngày, giấu kín những cảm xúc của mình không cho bất cứ ai
biết”.
Sau khi học xong tú tài, khác với nhiều người, Phạm Thiên Thư chọn cửa Phật làm chốn dừng chân. Ông
theo học trường Phật học Vạn Hạnh, gửi hồn trong lời Kinh tiếng Kệ.
Thế nhưng mỗi khi đi ngang con đường một thuở, hình ảnh cô gái với mái tóc xoã ngang vai lại hiện về
trong ông. Và trong một lần đắm chìm trong cảm xúc ấy, ông đã cầm bút viết lên bài thơ Ngày xưa Hoàng
thị: “Em tan trường về- Đường mưa nho nhỏ – Chim non giấu mỏ – Dưới cội hoa vàng…”.
Ông tâm sự: “Đây không phải là bài thơ đầu tay của tôi. Cha tôi tuy làm nghề thuốc nhưng ông có làm
thơ, tôi còn nhớ ông đã từng đạt giải Nhì về thơ do một tờ báo ở Hà Nội trao tặng.
Khi còn nhỏ tuổi tôi cũng đã làm vài bài thơ và được cha tôi khen. Nhưng tôi làm thơ chủ yếu để trải lòng
mình chứ không làm thơ chuyên nghiệp.
Vì vậy mãi đến năm 1968, tôi mới tự xuất bản tập thơ đầu tiên. In ít thôi, chủ yếu để mình đọc và tặng
một số bạn bè thân. Tôi chẳng muốn nhiều người biết về mình”.
“Thế khi nào mọi người mới biết tới những bài thơ của bác?”- “Ấy là khi chúng tôi nhờ nhạc sỹ Phạm
Duy phổ nhạc 10 bài Đạo ca do tôi viết lời, Phạm Duy gặp và tình cờ đọc được tập thơ của tôi. Tôi cũng
không nghĩ nhạc sỹ lại thích bài thơ Ngày xưa Hoàng thị đến thế, ông đề nghị phổ nhạc bài thơ đó. Dĩ
nhiên được một nhạc sĩ nổi tiếng như Phạm Duy để ý đến bài thơ của mình thì có gì hạnh phúc bằng. Và
tôi cũng bất ngờ nghe lại bài thơ của mình khi đã phổ nhạc. Nhạc sĩ đã tôn bài thơ lên rất nhiều qua những
giai điệu nhạc bay bổng”.
Vào những năm 70, bài Ngày xưa Hoàng thị đã trở thành một hiện tượng tại miền Nam Việt Nam. Ca sĩ
Thanh Thúy là người đầu tiên thể hiện bài hát này và sau đó nhiều ca sĩ khác cũng chọn bài Ngày xưa
Hoàng thị để hát, tạo thành trào lưu.
Thậm chí báo chí Sài Gòn cũng vào cuộc, nêu câu hỏi “Nhân vật chính trong N gày xưa Hoàng thị là ai?”.
Một số người tự nhận mình là nhân vật của bài thơ, số khác thì phân tích bài thơ rồi cho rằng nhân vật
chính trong bài thơ là cô A, cô B nào đó…
“Ngày đó báo chí cũng gặp tôi hỏi chuyện tôi nói rằng đó là cô Hoàng Thị Ngọ nhưng không biết tại sao
nhiều người vẫn không tin”. Ông bảo.
Nhạc sĩ Phạm Duy còn phổ nhạc thêm một số bài thơ tình khác của ông như Đ ưa em tìm động hoa vàng,
Gọi em là đoá tình sầu, Em lễ chùa này …
Căn nhà của ông giờ là một quán cà phê nhỏ mang tên “Hoa vàng”, có lẽ ông lấy từ bài “Đưa em tìm
động hoa vàng” để đặt tên.
Quán nhỏ nhưng bài trí khá đẹp nên khá đông khách. Có lẽ ít ai vào quán lại để ý tới một ông già có dáng
như một lão nông hay ngồi lặng lẽ trong góc nhà lại chính là nhà thơ Phạm Thiên Thư.
Ông cười: “Thì tôi đâu dám nhận mình là nhà thơ”. Biết chúng tôi đang tìm hiểu về bài Ngày xưa Hoàng
thị , cô con gái của ông tinh ý mở lại bản nhạc. Giọng ca của Thanh Thúy cất lên: “Em tan trường về-
Đường mưa nho nhỏ…”
Ông buông bút, nhắm mắt. Có lẽ ông đang hồi tưởng về những ngày xa xưa, những ngày trên con đường
trải nắng vàng, một chàng trai trẻ lẽo đẽo theo chân cô gái tên Ngọ có mái tóc dài xoã ngang vai… để rồi
làm nên những vần thơ lung linh và xót xa đến thế.
Theo Tiền Phong
Phạm Thiên Thư tự cứu mình bằng thơ
Mười năm tu trong chùa, học đại học vạn hạnh, đã thơ hóa 7 bộ kinh Phật. Năm 1975 nhập thế, lấy vợ,
vẫn tiếp tục làm thơ. Ông là Phạm Thiên Thư.
Thơ hay phải trầm trong nhạc, nạp trong tình
Nhà thơ Phạm Thiên Thư
19 tuổi tổ chức Học hội Hồ Quý Ly thu hút 100 người. Nhà nước chế độ cũ nghi ngờ ông là cộng sản,
công việc của ông bị gián đoạn. Ông vào chùa học Phật pháp. Mười năm tu trong chùa, học đại học vạn
hạnh, đã thơ hóa 7 bộ kinh Phật. Năm 1975 nhập thế, lấy vợ, vẫn tiếp tục làm thơ. Ông là Phạm Thiên
Thư.
Năm 1971, 30 tuổi, ông viết cuốn truyện thơ Đoạn trường vô thanh . Đây là một cuốn thơ hậu Truyện
Kiều , nói chuyện Kiều … về quê. Lời thơ tiêu dao, thơ táo bạo, nhiều nét lạ.
Ông nói: “Toàn bộ tác phẩm thơ của tôi đến nay là 126.000 câu thơ. Có tư tưởng”. Tôi hỏi: “Tư tưởng của
thơ ông là gì?”. Ông nói: “Thơ hay phải dày kinh nghiệm. Phải chiếm cảm quan, phải san trí tuệ, phải để
trong tâm, phải trầm trong nhạc, phải nạp trong tình, tụ hình nơi khoảng trống, để sống với tất cả”.
Là một người chìm đắm trong tư tưởng của Phật giáo nhưng tinh thần của ông luôn mở rộng. Ông nói, cốt
lõi của các tư tưởng là “Luôn biết mình dốt (Socrat), để gột tính kiêu ( Phật giáo), để yêu như mới (Công
giáo), để cởi mối hiềm (thế giới đại đồng), để thêm tinh tiến (kết quả cuối cùng). Tổng hòa các tư tưởng
này để sống”.
Tự điều chỉnh
Phạm Thiên Thư nói: “Tôi trải qua 3 đời vợ. Một người mất, một người chia tay, hiện sống với bà thứ ba.
Tôi nghĩ phải có con”.
Nụ cười là liều thuốc chữa bách bệnh
Phạm Thiên Thư là một trong số những nhà văn nổi tiếng trước 1975 còn lại ở Sài Gòn. Ông được giới
văn nghệ rất quan tâm, để ý. Quán cà phê nhỏ của ông là nơi nhiều anh em qua lại, kể cả giới sáng tác trẻ.
Ông thường nói: “Sáng tác phải có cái riêng của Việt Nam. Người ta sáng tác, không theo nhà này thì
theo nhà khác. Nên phải có cái riêng. Muốn như vậy, cần trước hết là một cái hiện thực của Việt Nam. Là
nghệ sĩ, sáng tác, thì hướng về dân tộc”.
Sở thích của ông là thơ thiền. Trước 1975 ông nghiên cứu về thiền, năm 1977, tập trung viết.
Bố mẹ là thầy thuốc nổi danh, ông cũng có nghề thuốc. Y lý của ông tóm gọn trong câu: “Con người có
khả năng điều chỉnh”. Ông thường nói: “Con thú tự điều chỉnh, ai chữa cho nó? Nó tìm cỏ cây mà ăn. Tự
điều chỉnh cho mình”.
“Con người tự điều chỉnh. Để con người tìm thấy bản thân, biết bệnh của mình, biết mình phải chữa cái
gì. Dùng văn chương chữa bệnh cũng là một cách. Chữa tâm bệnh của con người”.
Ông thường khiêm tốn bảo: “Nhờ gia đình nuôi, chỉ biết làm thơ. Bà xã là bác sĩ nha khoa”. Nhưng người
ta bảo ông chữa bệnh cứu người cũng có tiền, còn làm từ thiện nữa!
Thơ chữa bệnh
Nhờ”Từ điển cười”gồm 24.000 câu tứ tuyệt ông được Trung tâm sách kỷ lục Việt Nam trao tặng kỷ
lục”Người đầu tiên viết Từ điển cười bằng thơ”
Làm thơ thì không có gì mới. Nhưng làm thơ ngụ ý chữa bệnh thì quả là hiếm. Ông đã hoàn thành cuốn
“Từ điển cười” với cái tên y học là “Tiếu liệu pháp”, giải thích từ vựng dưới góc độ thơ hài hước.
Trong cuốn từ điển này, mỗi từ được ông lật đi lật lại, cười mấy bận. Ông nói: “Cái tâm của con người
phải có niềm vui, có sự sáng tạo thì nó mới có thể hồi sinh, khỏe khoắn, chiến thắng được bệnh tật từ
chính trong tư tưởng của mình”.
Cái tư duy sống động của ông đưa người ta vào thế giới của một thứ thơ cười, giải trí, độc đáo.
Ví dụ ông định nghĩa từ “Á”:
Ấm “á” – là khi bị véo tai
Riêng từ á hậu chỉ ngôi hai
Còn từ á khẩu – là câm họng
Chỉ miệng quan tham – lắm biệt tài
Cách ông nhìn về cái gọi là “Chửi êm ả”:
Cách chửi của mấy bà có học
Văn ngôn chửi bới toàn có học
Nghe như dao lam-cứa vào da
Chửi như hát ru- mà bật khóc
Chiết tự “Ả đào”:
Ngày xưa, hủ hóa cũng văn chương
Đàn hát ca ngâm-mới chiếu giường
Ca kỹ bỗng dưng thành bất tử
Nào Kiều Ngưng Bích- gái Tầm Dương
Trung tâm sách kỷ lục Việt Nam đã ghi nhận hai kỷ lục của Phạm Thiên Thư đó là người đầu tiên thơ hóa
Kinh Hiền Ngu (gồm 9 quyển, 46 chương), chuyển thể thi hóa thành 12.062 câu thơ lục bát với tên là
Kinh Hiền Hội Hoa Đàm, và người đầu tiên viết Từ điển cười bằng thơ.
Mối đồng điệu giữa hai người họ Phạm
Phạm Duy (tên thật là Phạm Duy Cẩn, sinh năm 1921) và Phạm Thiên Thư (tên thật là Phạm Kim Long,
sinh năm 1940) đều là người Bắc di cư.
Nhạc sĩ Phạm Duy
Ông và Phạm Duy có mối quan hệ khá đặc biệt. Phạm Duy đã phổ nhạc ca khúc Ngày xưa Hoàng Thị,
Đưa em tìm động hoa vàng, Gọi em là đóa hoa sầu, Em lễ chùa này, Huyền thoại trên một vùng biển,
Loài chim bỏ xứ và 10 bài Đạo ca của Phạm Thiên Thư.
Trao đổi với chúng tôi, Phạm Duy cho biết đạo ca là một trong những sáng tạo âm nhạc rất đáng chú ý
của ông: “Tôi là một người luôn tiên phong và đạo ca là một trong số những hướng sáng tạo của tôi, bên
cạnh thiền ca, tục ca, rong ca…”. Với Phạm Thiên Thư, ông đã dành rất nhiều thời gian để thi hóa Kinh
Phật, ông có Kinh Ngọc, Kinh Hiền, Kinh Thơ…
Phạm Thiên Thư viết hậu Truyện Kiều còn Phạm Duy đến nay vẫn tiếp tục hoàn thiện tác phẩm “Minh
họa Kiều”.
Sự đồng điệu giữa các nghệ sĩ như Phạm Duy, Phạm Thiên Thư nằm ở cốt lõi của tinh thần sáng tạo của
họ, như Phạm Duy nói, đó là xây dựng “dân tộc tính”, giữ bản sắc của dân tộc Việt Nam.
Với Phạm Thiên Thư, ít người biết rằng để có thể sáng tác ông đã từng trải qua những ngày tháng khó
khăn, có lúc phải mở tiệm hớt tóc kiếm kế sinh nhai, rồi đương đầu với bệnh tật, khiến ông gặp phải rất
nhiều khó khăn khi sử dụng ngôn ngữ. Ông làm Từ điển cười , trước hết là để khôi phục ngôn ngữ cho
chính bản thân và vượt qua những nỗi ám ảnh về sự trầm cảm.
Nghĩ cho cùng, sức sáng tạo của ông thật lớn, nhưng cũng chính thơ ca đã là cứu cánh cho cuộc đời ông
và thơ đã đem ông trở lại với cõi đời này sau những tổn thương và bệnh tật nan y.
Ngày ngày, người ta vẫn thấy Phạm Thiên Thư ngồi dưới tán cây, với những cuốn sách mới in, những
trang bản thảo. Với ông, cuộc sống đã trôi qua với bao đổi thay, nhưng những con chữ sống động thì vẫn
luôn cuốn hút ông và đem tới cho ông muôn điều mới lạ.
Tác phẩm chính của Phạm Thiên Thư: Thơ Phạm Thiên Thư (1968), Kinh Ngọc (Thi hoá Kinh Kim
Cương), Động Hoa Vàng (Thơ, 1971), Đạo ca (Nhạc Phạm Duy); Hậu Kiều – Đoạn Trường Vô Thanh
(1972), Kinh thơ (Thi hoá Kinh Pháp Cú); Quyên Từ Độ Bỏ Thôn Đoài (Thơ), Kinh Hiếu (Thi hóa), Kinh
Hiền (Thi hoá Kinh Hiền Ngu, gồm 12.000 câu lục bát), Ngày xưa người tình (thơ), Trại Hoa Đỉnh Đồi
(thơ, 1975), Thơ Phạm Thiên Thư (NXB Đồng Nai tái bản), Tự điển cười ( 24.000 bài tứ tuyệt tiếu liệu
pháp)…

