Cây bút nữ KIM PHƯƠNG OANH.

Họ và tên: Trần Thị Kim Oanh
. Di cư vào Nam : 1954
. Cựu học sinh trường Trung học Trưng Vương (1958 – 1965)
. Tốt nghiệp Sư Phạm và Đại Học Văn Khoa (1970)
. Dạy học : Trường Trung học Quốc Gia Nghĩa Tử- Sài Gòn, Trường Trung Tiểu Học Kỳ Hòa – Sài Gòn, và Một số trường Tư thục.
. Định cư tại Mỹ từ cuối năm 1990
. Bài viết đăng trên một số websites, nguyệt san.
. Hiện nay cộng tác với:
– Văn Hữu
– Đặc San Quảng Ngãi ( Georgia )
– Diễn đàn vanchuongpn
– Nguyệt San Hội Cao Niên vùng Charlotte và phụ cận.
Mẹ Tôi và Bí Ẩn Tâm Linh.
Mỗi độ Thu về nhìn lá vàng rơi giăng phủ kín lối đi, với những cơn gió thổi nhè nhẹ, hơi se lạnh làm tôi cảm thấy buồn man mác và nhớ mẹ tôi vô cùng. Mẹ tôi mất cũng vào mùa Thu, cách đây đã hai mươi hai năm rồi, nhưng đối với tôi mẹ vẫn luôn hiện hữu và tưởng chừng như chuyện mới xảy ra mà thôi. Không riêng gì tôi có cảm giác này, mà các anh chị tôi cũng vẫn thường nhắc nhở đến mẹ với tất cả tình cảm trân quý. Có dịp gặp nhau, anh chị em tôi luôn nhắc đến kỷ niệm về Bố Mẹ, cuối cùng cũng xoay quanh về Mẹ với những điều khó tin về tâm linh, nhưng lại là sự thật đã xảy đến với gia đình chúng tôi….
Khi còn nhỏ tôi thường được mẹ cho đi theo tới nhà họ hàng vào dịp lễ, tết. Đến nhà các bác tôi, trong lúc mẹ tôi và các bác trò truyện, nhiều lần tôi nghe các bác nói với mẹ tôi: “Bà chết đi sống lại hoá ra thọ hơn ông nhà bà.” Có lúc tôi nghe bác nói: “Lúc bà chết, ông ấy khóc quá và làm thơ khóc bà nữa!”… Vì còn nhỏ nên tôi không chú ý mấy đến câu chuyện của các cụ nói với nhau. Khi khôn lớn, mỗi lần nghe các bác tôi nhắc lại những lời nói trên, tôi thắc mắc hỏi lý do nào mà nói mẹ tôi chết đi sống lại, bác tôi bèn kể cho nghe câu chuyện về mẹ tôi.
Tôi sinh ra được tám tháng thì mẹ tôi bị bệnh. Sau mấy tuần lễ ốm nằm liệt giường, một buổi sáng mẹ tôi dậy rất tỉnh táo, khoẻ mạnh, đòi ăn uống và tắm rửa thay giường chiếu sạch sẽ, rồi mẹ tôi dặn dò mọi chuyện trong gia đình. Xong xuôi mẹ tôi cho biết trưa ngày hôm sau người sẽ ra đi. Tưởng rằng cơn bệnh đã khiến mẹ tôi mê sảng nói thế, nào ngờ trưa hôm đó mẹ tôi ăn mặc chỉnh tề và nằm ngay ngắn trên giường rồi ra đi thật. Cả nhà lo buồn và chuẩn bị tang lễ cho mẹ tôi. Bố tôi cắt dặt mọi việc nhà, chuẩn bị ngày hôm sau sẽ tẩm liệm. Ông nhờ một người bà con ngồi túc trực bên giường để canh xác trong lúc họ hàng tới đông đủ phụ lo cỗ bàn, dựng rạp. Khi ngồi bàn chuyện với khách đến thăm, bố tôi đã làm bài thơ khóc mẹ tôi. Anh chị tôi lúc đó còn nhỏ nên chỉ nhớ được mấy câu, mãi cho tới bây giờ mỗi lần có dịp gặp nhau, tôi vẫn được anh cả đọc cho nghe:
“….Con thơ dậy dỗ bế bồng,
Em về chín suối đau lòng chăng em?”
……………………………………………..
“Nhớ em trăm thảm nghìn sầu,
Nhớ em đến lúc bạc đầu chưa quên.”
Theo lời kể của bác tôi, đêm hôm trước ngày tẩm liệm mẹ tôi, một người anh bà con ngồi canh bên giường. Anh uống rượu say, vào quan tài của mẹ tôi nằm khóc nỉ non: “Bà ơi! bà hãy sống dậy đi để lo cho các cô, các cậu còn nhỏ, để con chết thay cho Bà”. Mọi người lôi anh ta ra và trách sao anh say rượu rồi nói càn!!! Đến gần sáng, mọi việc đã chuẩn bị xong xuôi, chờ tới giờ thầy cúng làm nghi lễ tẩm liệm. Lúc đó mọi người ở dưới nhà ngang, nơi để giường mẹ tôi nằm ( mẹ tôi mất ở quê ), nghe như có tiếng rên khe khẽ. Hốt hoảng vì tưởng con mèo nhảy qua người mẹ tôi nên mới có chuyện này, mọi người vội báo cho bố tôi biết. Cụ bèn đến nơi và sờ người mẹ tôi, thấy thật lạ vì mẹ tôi mất đã cách đêm mà người bà còn hơi ấm và mềm mại. Lát sau bố tôi xem lại thì thấy cảm giác này tăng dần, ông bèn cho mời ông lang đến bắt mạch, đổ sâm cho uống… Bố tôi cho rằng mẹ tôi đã sống lại. Ông theo Tây học nên không tin theo lời dị đoan nói rằng vì có con mèo nhảy qua mẹ tôi nên mới có hiện tượng lạ này. Nhiệm mầu thay, chỉ vài giờ sau mẹ tôi tỉnh lại, tuy còn rất yếu nhưng nói được vài câu.
Sau khi mẹ tôi sống lại, bố tôi đem trả lại nhà hàng áo quan đã mua để lo cho mẹ tôi. Vài tháng sau, người bà con đã khóc đòi chết thế cho mẹ tôi đột ngột qua đời. Khi mua áo quan lo cho anh, gia đình lại mua đúng cái mà anh đã từng nằm vào. Thật là sự mầu nhiệm, trùng hợp lạ lùng. Sau khi đã bình phục hoàn toàn, mẹ tôi kể lại cho bố tôi và bà con nghe những những sự việc bà đã nhìn và nghe thấy trong lúc hồn xuất dương:
“Mẹ tôi được bà nội tôi dắt tay đến các cửa quan ở địa ngục (bà nội tôi mất đã lâu rồi). Hai bà đi qua nhiều nơi lắm, thấy có những nơi người bị giam cầm tra tấn, giống như những cảnh bà đã thấy trong những bức tranh treo trong chùa. Bà nội tôi không cho mẹ tôi đứng lại xem, lôi đi và dặn mẹ tôi đừng lên tiếng và ăn uống gì cả. Bà nội và mẹ tôi đi qua tất cả chín cửa quan, nơi nào bà nội tôi cũng qùy lạy, khóc xin tha cho mẹ tôi sống thêm ít lâu nữa để lo cho con cái khôn lớn… Đến nơi thứ chín, có ba vị quan lớn râu dài, mặt đỏ, ngồi trên tòa sen cao, dưới đất trải chiếu hoa, chén đĩa đựng trái cây, trầu cau, ly đựng nước đều bằng bạc cả. Bà nội tôi cũng qùy lạy xin tha cho mẹ tôi được sống thêm lo cho con cái khôn lớn, bà nội tôi cứ qùy và khóc mãi, không chịu đứng dậy. Một hồi lâu thì vị quan ngồi giữa nói với bà nội tôi là ông tạm tha cho mẹ tôi về nuôi con. Quá mừng, bà nội đã dắt mẹ tôi chạy ra xe ngựa để trở về nhà. Về tới cổng nhà, mẹ tôi nói với bà cho mẹ xuống xe để đi tiểu.” Chúng tôi đoán rằng có lẽ lúc mẹ tôi nói với bà tôi là lúc ở nhà nghe được tiếng rên nho nhỏ của mẹ tôi phát ra.
Chuyện xảy ra cho mẹ tôi, tuy mới nghe có vẻ khó tin nhưng tất cả đều là sự thật. Sau khi mẹ tôi bình phục hoàn toàn và trở lại đời sống bình thường, có nhiều chuyện lạ xảy đến với gia đình tôi nữa. Chính mẹ tôi đã kể lại cho chị em chúng tôi nghe:
… Bố tôi làm việc ở Nam Định, thỉnh thoảng mới về quê chơi ít ngày rồi lại đi. Riêng mẹ tôi thường về quê và sống nhiều ngày hơn, bao giờ bà cũng đưa chị em tôi cùng về. Hè năm đó nóng hơn mọi năm. Một hôm trời oi bức, nóng nực, mẹ tôi dắt hai chị tôi, lúc ấy còn rất nhỏ, ra cổng nhà đứng hóng mát. Sáng hôm sau ngủ dậy mắt trái của người chị thứ hai sưng vù, con ngươi đỏ ngầu, đau nhức nên chị khóc la dữ lắm. Chờ sáng hẳn, mẹ tôi nhờ người giúp việc chèo đò đưa bà và chị tôi qua sông lên Nam Định gặp một vị bác sỹ bạn với bố tôi, xin ông khám xem chị tôi ra sao và xin thuốc chữa trị. Sau vài lần điều tr, mắt của chị tôi đã không khỏi, mà còn tệ hại hơn nữa, bác sỹ cho biết không chữa lành được. Quá tuyệt vọng, mẹ tôi quay ra chữa thuốc nam cho chị. Trên đường đi hốt thuốc bà gặp một người quen mách cho biết là ở làng bên cạnh có một người lên đồng bóng, cho thuốc chữa khỏi rất nhiều bệnh nhân. Mẹ tôi nghĩ “còn nước, còn tát” nên đã đến nhà người này để xin thuốc chữa con mắt cho chị tôi. Đến nơi gặp ông Hưu, người lên đồng, mẹ tôi trình bày lý do và xin được giúp đỡ. Ông bày lễ vật và cúng bái xong, một lát thấy người ông cứ lắc lư rồi ôm mặt khóc hu hu. Khóc một hồi thì ông quay qua mẹ tôi nói rằng: “ Con là cô Chín đây, con của mẹ mất đã lâu. Con muốn về nhà báo cho cha mẹ biết nhưng không biết cách nào. Mới đây nhân dịp về nhà, thấy mẹ dắt em ra đường đứng chơi nên con đã dí bông hoa nhài lên mắt em để mong mẹ biết mà tìm đến con.” Khóc xong một hồi thì người lên đồng đưa cho mẹ tôi nước cúng, trái ớt, nhánh tỏi, nói đem về giã trộn chung với nhau, đắp lên mắt chị tôi sẽ khỏi. Nói xong thì thăng. Bán tín, bán nghi không biết ra sao, mẹ tôi đánh liều làm theo lời dặn vì theo lời bác sỹ, mắt chị tôi không chữa khỏi được, coi như hư luôn rồi. Tối hôm đó sau khi đắp ớt, tỏi cho chị tôi xong, mẹ tôi bế chị nằm ngủ ở võng. Đến nửa đêm trong lúc mơ màng, nửa tỉnh nửa mê, mẹ tôi thấy một người con gái đứng bên võng nói: “Để con ngắt bông hoa nhài cho em.”. Đúng lúc đó chị tôi khóc thét lên. Mẹ tôi vội vặn lớn ngọn đèn dầu, thấy máu và mủ ở mắt chị tôi chảy ra, bà lau chùi cho chị rồi ru chị ngủ… Sáng hôm sau mắt chị tôi bớt sưng. Vài ngày sau thỉ khỏi hẳn.Thật như là một phép lạ, khó tin nhưng đã xảy đến với người thân của tôi nên từ ngày đó gia đình tôi rất tin tưởng nơi thần linh. Mẹ tôi cho biết chị cả của chúng tôi mất lúc chị mới lên chín tuổi. Chị cảm sơ, đòi ăn nhãn, ăn xong thì hôm sau chị mất. Mỗi năm đến mùa nhãn, mẹ tôi nhớ chị nhiều! Mẹ tôi khóc nhớ thương chị mãi, nhưng vì chị mất lúc còn nhỏ nên không lập bàn thờ ở nhà chỉ cúng mỗi dịp giỗ chị thôi. Sau chuyện này xảy ra, mẹ tôi đã đến nhà thờ Tổ, nơi thờ cúng chị tôi, xin bát nhang về thờ. Nay bát nhang chính vẫn còn được thờ ở nhà thờ Tổ của giòng họ ở ngoài Bắc.
Sau ngày đổi đời của đất nước, chú Út tôi từ ngoài Bắc vào chơi, kể lại cho mẹ và chị em tôi về sự linh thiêng của chị Cả tôi, sự linh thiêng đã khiến dân làng rất tin tưởng và hàng năm họ góp gạo đến nhà thờ Tổ, nơi có bát nhang thờ Chị tôi, cùng nhau làm lễ cúng bái, chú tôi kể lại như sau: “ Khi gia đình tôi di cư vào miền Nam sinh sống, nhà cửa bị CS tiếp quản, đóng trụ sở tại đó, tới mùa trái cây như nhãn, đào, mận, ổi, chuối…họ leo lên cây hái trái để ăn và đem bán, lần nào trèo cây cũng bị té ngã gãy tay, gãy chân hoặc u đầu, sứt trán, không cách nào leo lên cây được, đêm đến có người con gái lay giường bắt dậy, đòi trả nhà cho bố mẹ Cô. Sau đó có người mách bảo nhà có người chết linh thiêng lắm, đến nơi thờ phượng, khấn vái xin phép hái hoa trái đem bán, nghe lời khuyên, họ mang bông trái cây đến nhờ chú tôi giúp, chú tôi nói, phải có lòng thành, đích thân cúng mới được. Từ đó về sau, mùa nào trái ấy, họ đều đem lễ vật đến cúng chị Cả tôi rồi mới trèo cây hái trái, mọi việc êm xuôi, không bị té ngã nữa. Dân làng ai có chuyện gì đều đến cầu xin chị tôi và đều được toại nguyện cả, nên ai ai cũng tin tưởng lắm”
Chú út tôi còn kể cho nghe nhiều chuyện về sự linh thiêng của chị tôi nữa, chẳng hạn thời giặc Pháp hay về làng càn quét, cướp của, giết người. Mỗi lần nghe báo động có giặc về làng, mọi người bồng bế, gồng gánh chạy loạn, nhiều lần chạy trong đêm tối, không nhìn rõ mặt nhau, trong hoàn cảnh như vậy, chú tôi khấn vái chị tôi phù hộ cho gia đình và dân làng thoát nạn. Thật là mầu nhiệm, chú tôi và mọi người nhìn thấy thấp thoáng phía trước có bóng người con gái cầm đèn soi đường cho mọi người đi theo. Dân làng cứ lặng lẽ đi theo ánh đèn, bao giờ cũng tránh được giặc Tây, không bị thiệt hại gì cả….
Sau ngày mất nước vài tuần, tôi đến nhà thăm mẹ, đúng lúc đó tôi thấy bà chị dâu thứ của tôi đang đứng khóc hu hu trước bàn thờ và người lắc lư như lên đồng. Mẹ tôi vội thắp nhang và khấn vái rằng, nếu có phải chị Cả tôi về đồng, muốn nhập vào chị dâu tôi thì cho biết chứ đừng hành xác chị tôi nữa, tội nghiệp chị ấy. Sau đó mẹ tôi đưa rượu cho chị tôi xúc miệng , khai khẩu. Một lát sau chị dâu tôi ngừng khóc và nói cho biết chị Cả tôi về đồng, nhập vào chị dâu thứ của tôi để nói chuyện, một sự lạ là chị dâu tôi xưa nay đả phá đồng bóng dữ lắm, không tin dị đoan bao giờ, thế mà giờ chị Cả tôi lại nhập vào chị. Chị tôi về đồng và nói rất thương mẹ và các em, nhưng không cứu vãn được vì hạn gia đình phải gánh, cho biết sau này tất cả các em của Chị tôi sẽ sinh sống ở nước ngoài, có cuộc sống hạnh phúc, sung sướng, con cháu thành đạt nơi xứ người. Mẹ tôi nói không tin vì nay em trai, em rể Cô đã đi tù, những đứa ở nhà thì sống vất vả, lo lắng mọi bề, cả nhà đều bị kẹt lại không ai đi thoát ra nước ngoài sinh sống cả, Chị tôi cười và nói cứ tin nơi Chị, sẽ có ngày đó đến với các em của Chị, nói xong thì chị thăng. Thời gian thấm thoát qua đi, từ đó Chị tôi cũng không về nhập đồng nữa, mọi người trong gia đình cũng quên lãng câu chuyện này. Rồi phong trào vượt biên xảy ra, chồng tôi sau khi được thả về, mẹ chồng tôi giúp vốn đã vượt biên thành công, con các chị tôi cũng vượt biên, tới được đất Mỹ sinh sống…Chương trình ra đi có trật tự được thực hiện, chồng tôi bảo lãnh cho ba mẹ con tôi, gia đình các chị tôi được con cái bảo lãnh, gia đình anh tôi đi diện HO… nay cả năm gia đỉnh anh chị em tôi đều sinh sống ở đất nước tự do này, con cái đều thành đạt, nên người. Nhớ lại những lời mà Chị Cả tôi về đồng nói lúc năm xưa, thật không sai điểm nào cả. Vấn đề tâm linh thật khó mà giải thích.
Mẹ tôi sau này về ở với ba mẹ con tôi, bà nói chồng tôi không có nhà, tôi thì ”trẻ chưa qua, già chưa tới”, sợ mọi người dòm ngó vì có chồng gửi quà từ Mỹ về nuôi.. Bà vốn sống rất nhân đức hiền từ, hết lòng thương yêu con cái. Mẹ tôi là một bà mẹ quê Việt Nam điển hình với tính tình đôn hậu, chịu thương, chịu khó, hy sinh cả đời lo cho chồng con. Hàng xóm láng giềng cần gì, mẹ tôi sẵn lòng giúp ngay. Những người buôn bán hàng rong kiếm sống qua ngày, mẹ tôi mua bao giờ cũng trả đúng giá đòi, không kỳ kèo bớt xén gì cả, nhiều người hoàn cảnh quá khổ, túng thiếu, mẹ tôi còn cho mượn vốn buôn bán, cho vay từ tháng giêng đến ba mươi tết đem trả, qua mùng bốn tết đến mượn lại mà không lấy bất cứ quà cáp gì mà họ đem biếu cả. Mẹ tôi thường nói:” Của trời của Phật, đừng lo sợ mất”, giúp ai được điều gì thì nên giúp với tất cả tấm lòng. Nhờ sống chung với mẹ tôi nên tôi và các con cũng học được tính vị tha, thương người của mẹ tôi, sẵn lòng vì mọi người. Chưa bao giờ tôi thấy mẹ tôi to tiếng với con cái hay người ngoài cả, nếu không bằng lòng con cái điều gì, mẹ tôi chỉ chép miệng thở dài thôi. Tôi còn nhớ lúc các con tôi còn nhỏ, con nít ham vui, lười học, nhất là con trai tôi, tối bị cúp điện, thắp đèn dầu, muỗi vo ve bên tai, mẹ tôi ngồi bên cạnh, quạt đuổi muỗi cho con trai tôi học bài, mẹ tôi nói “ráng mà học con ạ, ở đâu, thời buổi nào cũng cần người có học cả, có học không sợ đói, mai đây qua đoàn tụ với bố các con, thấy các con học giỏi bố mới không phàn nàn mẹ con chứ”, những câu nói của mẹ, tôi khó quên được, thật là:
“Một đời gánh nắng, gánh mưa
Mòn vai đời mẹ vẫn chưa yên lòng”
Mẹ tôi biết trước ngày mất. Hai ngày trước đó mẹ tôi ngủ trưa và miệng nói chuyện rang rang. Tôi lạy mẹ tôi, thì cụ nói để yên cho mẹ nói chuyện. Khi thức dậy mẹ tôi cho biết sắp đến lúc mẹ đi rồi, trước kia được phép sống thêm để nuôi các con khôn lớn, nay là lúc về với Ông Bà, đã tám mươi bốn tuổi rồi, sống vậy là quá thọ rồi. Rồi mẹ kể cho nghe vừa nói chuyện với mấy bà bác, mất đã lâu lắm rổi, các bạn đi chùa với mẹ tôi nữa, các cụ ngồi đầy xe bus chờ mẹ ngoài cổng, mẹ nói chờ mẹ về nhà lấy cây dù rồi sẽ đi sau.Biết chuyện ngày xưa mẹ đã từng chết đi, sống lại, tôi rất tin tưởng lời mẹ nói là mẹ sắp ra đi.Hôm sau tôi cho dọn dẹp nhà cửa gọn gàng sạch sẽ, những thứ không cần thiết, dẹp lên gác hết cho rộng nhà. Sáng hôm sau anh trai thứ của tôi đến thăm mẹ tôi, gọi anh ra phòng ngoài kể cho anh nghe hiện tượng về mẹ tôi, anh gạt đi và nói tôi đừng quá lo lắng và tin chuyện mẹ nói sắp ra đi, mẹ rất khỏe, không đau ốm gì cả thì làm gì xảy ra chuyện cho mẹ được.Tôi tạm yên lòng, mẹ tôi gọi anh tôi đến, móc túi cho tiền và phân phát cho con cháu hết số tiền đang có, nói tôi đưa bọc quần áo mà mẹ tôi đã sắp sẵn, có cả miếng vàng nhỏ để trong túi nhỏ nữa. Trưa đó mẹ tôi tắm gội sạch sẽ, cho thay giường chiều, giặt mùng mền. Đến ba giờ sáng, mẹ tôi dậy đi tiểu, tôi thức dậy đỡ mẹ tôi lên giường, cụ nói :” mẹ mệt qúa, chắc không sống được”, nói xong ngả đầu vào tay tôi, nhắm mắt đi luôn, tất cả chưa đến năm phút đồng hồ!!! Ôm mẹ trong lòng mà không dám tin là mẹ đã mất, tôi không còn khóc được vì chuyện xảy đến quá đột ngột….
Nghe tin mẹ tôi mất, bà con họ hàng xa gần, xóm giềng tới thăm viếng rất đông, ai ai cũng thương tiếc mẹ tôi và nói : mẹ tôi là người nhân hậu, đạo đức, thương người, sống rất giản dị, cởi mở với tất cả mọi người nên Cụ ra đi dễ dàng, nhanh chóng như vậy.Có những người cháu của Bố tôi với tuổi đời trên dưới bảy, tám mươi, đã khóc mẹ tôi và kể những công đức mà ngày mẹ còn ở quê giúp đỡ con cháu, họ hàng… Được biết những chuyện về mẹ mà trước đây tôi chưa bao giờ nghe mẹ nhắc đến, tôi càng kính phục và yêu mẹ thêm.
Đã hai mươi hai năm rồi tôi vẫn luôn nhớ đến mẹ và thấy thật là bất hạnh không còn mẹ để chia sẻ những khó khăn, vui buồn của cuộc đời, được nghe những lời khuyên và góp ý của mẹ. Nhất là vào dịp lễ Vu Lan, về chùa dự lễ, thấy mọi người được cài bông hồng đỏ trên áo, còn tôi với bông hồng trắng, cảm thấy buồn và tủi thân vô cùng, thật thấm thía với câu thơ của thi nhân:
“Hoàng hôn phủ trên mộ
Chuông chùa nhẹ rơi rơi
Tôi thấy tôi mất mẹ
Như mất cả bầu trời”
………………………………..
“Nhớ mẹ con nghẹn ngào
Lời ca sầu vút cao
Hoa trắng cài lên áo
Thương mẹ mắt lệ trào”
Mẹ ơi, hôm nay ngồi viết những dòng chữ này về mẹ, con xin nguyện cầu cho mẹ được an nghỉ bình yên. Suốt cuộc đời mẹ đã cho chúng con tình yêu thương vô bờ bến, mẹ là bóng mát dịu êm đã che chở, nuôi nấng con nên người, mẹ là nguồn sống, là tình thương yêu bất tận. Cả đời mẹ hy sinh, chịu đựng, sẵn sàng gánh vác sự khó khăn cho con cái. Con xin gửi đến mẹ lời thơ của Thầy Thanh Trí Cao, nói lên tâm sự của con:
………………………
“Vu Lan ý nhiệm mầu
Báo hiếu nghĩa thâm sâu
Đời con cài hoa trắng
Mẹ hiền giờ ở đâu
Lạy Phật con nguyện cầu
Cho dù mẹ ở đâu
Trần gian hay nước Phật
Hồn mẹ không khổ đau”
Kim Phương Oanh
(Mùa lễ Vu Lan 2010)
Cháu Tôi.
(Niềm Vui cuả tuổi Gìa – phần 2)
“Ông ơi, ông nằm với con đi, ông ơi!”
Tiếng cu Thiện gọi ông ơi ới lên lầu nằm chung để ru cháu ngủ, làm bé Tâm đang lim dim, choàng tỉnh dậy, quay qua ôm chặt lấy tôi. Muốn cho bé Tâm ngủ, mất khoảng nửa giờ cháu mới ngủ say, lúc đó tôi mới “len lén” dậy ra khỏi phòng để làm việc linh tinh khác.
Trái lại Thiện rất dễ ngủ và đúng giờ giấc. Tới giờ cháu gọi ông, hai ông cháu nằm chừng năm phút là Thiện ngủ và ngáy khò khò rồi.
Hai cháu ngoại của chúng tôi chưa được ba tuổi, nhưng chúng lanh và nói nhiều lắm. Hai chị em tự dành phần: ông của cu Thiện, còn bà là của chị Tâm . Buổi trưa và tối hai cháu nằm ngủ với ông, bà và nếu đang cùng đùa giỡn với nhau, nhưng nói chuẩn bị đi ngủ, thế là chị Tâm chạy đến nắm tay bà, cu Thiện tự động nắm tay ông, cùng lên phòng. Nếu ông chưa kịp lên là cu Thiện gọi ơi ời rồi.
Thường khoảng chín giờ tối, hai cháu đi ngủ và sau mười giờ đêm được bố mẹ đón về phòng riêng, hai cháu ngủ đến bảy, tám giờ mới dậy.
Hai cháu rất quý và thân ông bà, đặc biệt với ông. Đồ chơi hết pin, hư hỏng, hai cháu cũng mang đến đưa ông và nhờ sửa “ông ơi, cái này hư rồi, ông sửa cho con…” hoặc xe ô tô bằng nhựa, không chạy, cháu cũng gọi ông “ cái này hết pin rồi, ông thay cho con, ông sửa cho con cái này, cái nọ cả ngày…”. Chúng luôn miệng ông ơi, ông ời vào chơi với con đi, ông đọc sách cho con nghe, hoặc ông mở Thế Hệ Trẻ cho con xem…
Chúng tôi bận rộn cả ngày với hai cháu, trước hai cháu còn nhỏ quá, ông bà phải bế ẵm, chúng tôi cứ nghĩ các cháu lớn hơn sẽ nhàn. Nào dè đâu, nay chúng tự chạy nhảy, chơi đùa, chúng tôi còn bận hơn vì chúng hay cãi cọ, tranh nhau đồ chơi, chúng tôi phải xử cả ngày! Mắt không rời các cháu được vài phút, vì ngoài giờ ngủ trưa, suốt ngày chúng gọi ông, gọi bà mách nhau, khóc vì tranh giành đồ chơi hoặc chạy nhẩy rồi té ngã.
Hai bé bây giờ leo trèo và nghịch “quỷ khốc thần sầu”. Tôi vắng mặt chưa đầy năm phút, thấy yên lặng, tưởng hai cháu ngồi chơi, nào ngờ… hai chị em đã công kênh nhau leo lên bàn và vượt rào, trèo vào phía trong để thùng đựng đồ chơi, lục lọi, quăng tung tóe các con thú, đồ chơi khác ra sàn nhà. Tôi có trái banh rất lớn để tập thể dục, cất một góc nhà, bên ngoài là những thùng tã của hai cháu, thế mà hai bé cũng trèo qua sofa, qua những chướng ngại, cùng nhau vác được trái banh ra ngoài sàn để chơi và reo hò ầm ỹ, náo nhiệt lắm. Nhìn hai cháu đùa giỡn với trái banh to hơn chúng nhiều, tôi vừa giận vừa buồn cười. Tôi dọa, nếu không thu dọn đồ chơi gọn lại sẽ bị đòn. Bé Tâm nhát đòn nên khóc òa, hai tay dấu sau lưng và miệng mếu máo: “con không bị đòn đâu”, còn Thiện vừa khóc vừa trèo lên sô pha ngồi và khoanh tay nói: “con chừa rồi, xin lỗi bà, con không dám nghịch nữa”, bé Tâm thấy em xin lỗi, cũng bắt chước, vội xin lỗi bà. Thấy điệu bộ hai cháu dễ thương như vậy, tôi quên ngay giận và ôm lấy chúng, giảng giải cho hai cháu biết lỗi đã phạm. Phạt cháu vì thương và lo lắng hai cháu té ngã nguy hiểm, chứ không phải bà cấm không cho chơi đồ chơi, muốn đồ chơi, nhờ người lớn lấy cho. Hai cháu nghe tôi nói vậy, chúng cười toe toét ngay và ôm chầm lấy tôi, dụi mặt vào người tôi, cười thật hồn nhiên. Đúng là trẻ thơ, dễ khóc, dễ cười và biểu lộ tình cảm thật đáng yêu.
Có một lần hai chị em cãi nhau, giành đồ chơi, bé Tâm đã véo em trầy mặt và Thiện cũng xô chị ngã, đánh trả lại. Tôi bắt quỳ, hai cháu mếu máo khóc, xin lỗi, hứa chừa đánh nhau, và hai bé ôm lấy tôi, khóc nói:
“Bà ơi, đừng đánh con đau,
Để con mua cá dầm xoài bà ăn”
Tôi rất ngạc nhiên và bất ngờ khi nghe hai cháu nói vậy, tôi hỏi ai dậy thì các cháu nói nghe băng Xuân Mai hát, con bắt chước… Thế là từ hôm đó trở đi, cả nhà nói chuyện phải chú ý cẩn thận, kẻo các cháu nghe và bắt chước theo.
Hai cháu tôi thích được ra khỏi nhà, mỗi lần tôi nói chuẩn bị đi bộ trong xóm hay bố mẹ cháu rủ đi chợ, hai cháu tranh nhau đi lấy giầy ba ta rồi nhờ ông hoặc bà xỏ giầy giùm. Chúng nói: “con còn bé, chưa xỏ chân được, ông, bà giúp”, chúng lăng xăng lấy áo lạnh, chạy tới, chạy lui thật “bận rộn”.
Trước đây, chúng tôi cho hai cháu về chùa lễ Phật, đi cùng bố mẹ cháu. Suốt khóa lễ, chúng ngồi im lặng, không quấy, khóc và thấy người lớn qùy lạy, chúng cũng bắt chước qùy lạy theo, thật trang nghiêm. Hai cháu thường nhắc nhở xin đi chùa. Có vài lần sau khi đi chùa về nhà, bé Thiện lấy đồ chơi bằng nhựa như cái chảo hay cái tô, bé dùng thìa nhựa, gõ vào nhau kêu lốc cóc, hai chị em đi quanh phòng khách, miệng niệm Phật: “Nam Mô A Di Đà Phật”, niệm xong câu thì quỳ cúi rạp người xuống đất lễ…rồi đi tiếp và niệm Phật. Nhìn hai cháu thành kính như vậy, chúng tôi rất mừng và thầm mong sao, sau này lớn khôn, hai cháu cũng giữ được lòng tôn kính Đức Phật như bây giờ.
3-
Khi hai cháu được hai tuổi tròn, chúng tôi chơi xếp chữ với hai bé và dạy tập nhận diện hai bốn chữ cái, mười số từ số một đến số mười. Sau một tháng vừa học, vừa chơi, hai cháu đã thuộc hết mặt chữ và số. Bố mẹ cháu thấy hai con thuộc hai bốn chữ cái nên cùng ông bà dạy ráp chữ tên hai bé, ông bà, bố mẹ, cô chú… Bây giờ các cháu ráp chữ khá lắm, đôi khi để sai vị trí, nhưng đánh vần luôn luôn đúng. Hai cháu có thể đếm từ một đến năm mươi được. Bố mẹ cháu muốn hai bé biết đọc và nói tiếng Việt trước khi đi học, nên không nói tiếng Mỹ trước mặt hai cháu. Một lần cho hai bé đi chợ Costco, tôi nói “thank you”với người bán hàng, tôi bị hai cháu nói ngay “bà phải nói cám ơn, không được nói thank you”. Tôi giải thích cho chúng biết, người bán hàng là người Mỹ, bà phải nói tiếng Mỹ với họ.
Đặc biệt chúng thích ca hát lắm, mẹ cháu dạy mấy bài hát nhi đồng, hai cháu thuộc lòng, còn tôi mở điã hát bé Xuân Mai cho hai cháu nghe, vậy mà chúng cũng thuộc gần hết!
Mỗi lần hai cháu muốn tôi cùng chơi chung với cháu, hai chị em nắm tay tôi và hát:
“Bà ơi bà, cháu yêu bà lắm,
Tóc bà trắng, trắng như mây
……………………………
Cháu nắm tay bà, cháu biết bà vui”
Thế là tôi lại bị hai cháu dụ dỗ và cùng chơi đùa với hai bé. Khi cùng chơi chung với tôi, hai cháu rất thích tôi kể chuyện cổ tích hoặc nhìn sách nhi đồng bằng tranh đọc cho chúng nghe. Hai cháu có trí nhớ tốt, truyện kể chừng hai lần, lần sau cháu kể lại nội dung không sai.
Tuổi xế chiều có cháu để chăm lo, vui đùa, thật vui. Quên những ngày tháng dài vì tuổi gìa, sức yếu không còn đủ sức khỏe, tinh thần để làm việc nữa. Cám ơn Trời Phật đã cho chúng tôi còn đủ minh mẫn để chăm sóc các cháu và được hai cháu quý mến, thương yêu.
Tuổi già như vầy là vui, hạnh phúc lắm phải không quý vị?
Kim Phương Oanh

