Tác giả, Nhà truyền thông NGUYỄN THỊ MẮT NÂU.

Tác phẩm đã xuất bản:
– Màu chiều đã tắt (tập truyện, Đất Việt xuất bản)
– Loài người cô đơn (tái bản lần thứ 2, T.T. Văn Bút Nam Cali xb)
– Người cuối chân mây (tập truyện, Hương Văn xb)
– Thơ viết chưa xong giữa cuộc đời (tập thơ, chung với Huy Trâm, Hương Văn xb)
– Giọi lệ cho cho từ bi (truyện & thơ, Đất Việt xb)
GIỌT LỆ CHO TỪ BI.
* N.T. Mắt Nâu
Buớc ra khỏi thang máy của khu shopping, trời còn sớm. Một chút nắng vàng hanh, một chút mây lãng đãng, bãi đậu xe đã vãn, nguời qua lại không vội vã, tạo cho khung cảnh của khu thương mại một sắc thái thanh nhàn.
Chưa bao giờ Hảo thấy mình nhàn hạ như bây giờ.
Mấy đứa con đi học xa nhà…. Những bữa ăn tối một mình…. Ngôi biệt thự màu xanh, và số tiền hưu dưỡng của người chồng đã khuất … Khung trời vắng vẻ ấy, là nơi chốn bình yên cho một người quả phụ chớm ngả về chiều như Hảo.
Đang suy nghĩ vẩn vơ, Hảo giật mình nhìn sững người đàn bà vừa buớc vào chiếc xe màu trắng –
Quá khứ đã ngủ quên, chợt thức dậy –
Một thoáng xót xa ập đến, hòa nhập vào mạch máu đang nhẩy mạnh trong lồng ngực… Thẫn thờ mất vài giây, Hảo đi tiếp về phía chiếc xe của mình nơi cuối bãi, trong buớc chân rời rã.
Chiều vẫn xuống, khung cảnh vẫn bình yên.
Nhưng một cái gì dường như thổn thức, một cái gì dường như tê tái bâng khuâng. Hảo ngất ngây như người lên cơn sốt, một cơn sốt chìm sâu trong tiềm thức rã rượi não nề.
Bữa cơm tối nay tại nhà hàng Con Voi Đất, của nhóm Thân hữu các bà mẹ, do nhà thờ chiêu đãi, bỗng trở thành nhạt nhẽo, và túi quà vừa mua trong mall trở nên nặng trĩu treo trên mấy ngón tay.
Phải rồi, chỉ vì người đàn bà đặc biệt, không bao giờ quên đuợc! Khuôn mặt ấy, vóc dáng ấy… với Hảo, là bóng hình của thiên sứ, của xả thân, mang trái tim của hiến thân và cứu khổ.
Tấm hình hài đẹp đẽ đã dám quên thân mình, để cứu cho nhiều mảnh đời thoát khỏi khổ đau, tan hoang, vò xé và oan trái…. mà khổ nỗi, ở đời này, những thảm kịch oan trái, vò xé ray rứt lẫn nhau, để tạo ra tang thuơng tội nghiệp, chỉ toàn do lòng nhỏ nhen ích kỷ, hẹp hòi đến đê tiện. Và nó cứ tồn tại mãi hoài, do thành kiến vô minh, do khốn nạn của loài người cố chấp.
Bãi đậu xe vắng dần.
Gần đến xe của mình, Hảo bấm nút tự động từ xa, mở cửa chui vào, nhìn thoáng mình trong tấm gương trước mặt, Hảo thấy khuôn mặt mình dường như hơi tái đi. Hảo nhắm mắt một giây, hít thở vài hơi, rồi mở máy, gài số, lái chầm chậm đi tới nhà hàng.
Cảnh sắc hai bên như lùi lại.
Buổi chiều vẫn đẹp, vẫn bình yên, pha lẫn chút hoang tàn.
Và hình bóng người đàn bà lúc nãy vẫn vật vờ ám ảnh Hảo trong suốt chặng đuờng. Nó vừa xa, như từ bao nhiêu kiếp Song lại rất gần, như đứng ngay trước mắt. Và nó đang nhởn nhơ luợn lờ tựa như một bóng ma khoác áo thiên thần…
Tới nhà hàng, đẩy cửa buớc vào, Hảo thấy ngay dẫy bàn đã đặt cho bữa cơm tối nay của nhóm thân hữu các bà mẹ do nhà thờ chiêu đãi.
Năm bảy nguời đã đến truớc, vẫy tay. Hảo buớc đến, kéo ghế ngồi xuống và lặng im chẳng nói. Một chút gì như lãng quên, và một chút gì như nhung nhớ đến quặn thắt cả nguời.
Hảo ngồi nghe câu chuyện nói qua, nói lại và cố hình dung ra dung nhan bà hội trưởng, đại diện nhóm nhà thờ của buổi tối hôm nay.
Xong, chẳng hiểu sao, trong tâm tưỏng, hình ảnh của toàn bộ chặng đuờng vuợt biển năm xưa, nối tiếp với quãng đời tha huơng đơn chiếc của Hảo bỗng hiện ra, cùng với khuôn mặt nguời đàn bà lúc nãy – Tất, tất cả chập chờn sống dậy trong thảng thốt, trong hỗn độn, hãi hùng:
Chuyến tàu ngày đó, 25 người nhào trong sóng dữ… Xứ Mỹ với những ngày đầu ám ảnh khó quên… giọt nuớc mắt trào ra lúc Hảo biết mình đuợc mang bầu, và cái xúc động của lần đầu tiên làm mẹ… Bầy con thơ chiu chít và người chồng quá cố im lìm…. Căn nhà màu xanh êm ắng của một thành phố nhỏ…. Những buổi chiều hoang vắng trong cảnh hoàng hôn … Tất cả, quay thật chậm và cuối cùng vẫn là khởi đi từ một hình ảnh khốc liệt hoang tàn, với khuôn mặt đàn bà rã rời tan tác …
Đang miên man như thế, thì cánh cửa nhà hàng mở rộng, sáu bảy nguời đến cùng một lúc.
Mấy bà ngồi trong bàn, huớng về phía người đàn bà mặc áo màu hoàng yến, thì thầm:
– Kia, bà Hội truởng đến rồi kia.
Họ nói với thái độ thân thuơng ngưỡng mộ.
Và thoang thoảng bên tai lời xì xầm nho nhỏ:
– Bà ấy không con, chỉ biết làm việc thiện.
Hảo nhìn lên. Tim đập mạnh. Ơ kìa, chính là người đàn bà Hảo đã nhìn thấy ở bãi đậu xe khu shopping hồi nãy.
Trong bộ đồ màu hoàng yến, nguời đàn bà khá đẹp với cái dáng vừa tầm, thanh nhã. Khuôn mặt bình thản đến lạnh lùng, nhưng dễ gây thiện cảm. Vẻ đẹp mang nét chín mùi, so với ngày xưa.
Khuôn mặt này, Hảo quên làm sao được… Và nó đang kích động toàn bộ thần kinh của Hảo.
Hảo nhắm mắt lại, toàn thân rúng động. Và Hảo nhớ như in, hoạt cảnh tàn nhẫn lạ lùng của cái ngày vuợt biển thê luơng :
Phải, hôm ấy, khi nghe cuớp sắp tràn sang chiếc tàu vuợt biển… Một màn múa tabu gợi cảm đã diễn ra ngay ở sàn tàu… Một trận cuời dã man rú lên của loài cầm thú… Lũ cướp biển thỏa thuê luân phiên cưỡng hiếp … Một tấm thân bê bết máu… Và sự rút lui rất nhanh của bọn hải tặc sau khi thỏa mãn… Tất cả bàng hoàng như trong một giấc mộng hãi hùng.
Người ta đưa mắt bảo nhau nguời đàn bà bị hiếp đó là một tú bà – Và cũng chính nguời tú bà trẻ đó đã là nguời hành động hiến thân, để cứu cho muời bốn phụ nữ đi cùng chuyến (trong đó có Hảo), không bị lũ cuớp hiếp dâm trên biển….
Cơn ác mộng đã tàn, đám chị em phụ nữ hoàn hồn, vội quơ tấm mền bọc lấy tấm thân rỉ máu của nguời đàn bà lại và khóc rống lên… Chẳng ai biết chị tên gì, tuổi tác bao nhiêu. Có lẽ chỉ một nguời biết – đó là vị chủ tầu, đã chết vì vừa bị quăng xuống biển.
Nguời đàn bà bị hiếp đã ngất đi như thế hàng giờ, và khi tỉnh dậy, rất trầm tĩnh nói với tất cả phụ nữ trên tầu bằng một âm thanh thảm thiết:
– Mọi chuyện đã qua rồi… Tôi không chết vì số trời chưa cho chết.
Mọi người òa lên và cúi lạy tạ ơn, chị khua tay, thều thào nhưng rành rọt rõ ràng:
– “ Không cần làm thế… Tôi chỉ xin các chị em phụ nữ hai điều:
* Điều một, khi đến đất liền, không về cùng một chỗ, hãy chia nhau đi mỗi người một phương để sống.
* Điều hai, sau này, có gặp lại nhau, thì coi như không hề quen biết và không bao giờ nhắc lại chuyện hôm nay… Riêng tôi, với tấm thân không còn trong trắng, xin chịu nạn thay cho mọi người “trong trắng” … Đây là cái duyên duy nhất chúng ta có thể cho nhau trong cuộc đời này…. Kể từ đây, chúng ta là những người xa lạ. Sau này có gặp nhau, tuyệt đối không chào hỏi và không cần đối mặt… Các chị hãy quì xuống cầu xin ơn Chúa cho chúng ta gặp điều may mắn.”
Lời nói của mấy muơi năm ấy, bây giờ vang vang ở bên tai.
Hảo kín đáo nhìn người đàn bà lặng lẽ – Một giọt lệ từ trái tim nóng trào ra, cay xé ở rèm mi.
Giọt lệ của cảm kích, biết ơn.
Giọt lệ dâng cho lòng tốt bụng từ bi !
CÁI BÌNH TÍCH CŨ
* Nguyễn thị Mắt Nâu
Tháng Sáu, trời Dallas nóng như đổ lửa. Kinh quá, có những ngày lên đến 110 độ F.
Mới buổi sáng, nắng đã lên và không gian ngột ngạt mồ hôi đổ vã cả người.
Bãi cỏ trước nhà và những bãi cỏ các nhà chung quanh, mấy tháng truớc còn xanh, nay muốn ngả sang màu vàng khô như cháy.
Ông bà Mẫn nhìn nhau ngao ngán cho cái tuổi già và cho cái thời tiết bất thường đang thoi thóp và biến đổi môi sinh do con người tạo nên.
Ngày xưa ở miền namViệt Nam, thời tiết quanh năm nóng đã đành và nó ra một lẽ – Vì xứ mình mình ở, không có so sánh và không lựa chọn.
Từ ngày con cái bảo lãnh qua đây, đuợc qua với con, dĩ nhiên là vui, dù thật ra chúng nó cũng đi cả ngày, có mấy khi gặp mặt, chưa kể, cái xứ gì mà đất rộng mênh mông, xe cộ không biết lái, hai ông bà chỉ có nuớc ra vào nhìn nhau hiu quạnh. Nhưng thế còn là may, chứ chỉ có một mình thì còn buồn hơn nữa. Ông bà tự an ủi như thế. Rồi những ngày thơ thẩn ra vào, cuối tuần đi lễ nhà thờ, nghe người nọ người kia mách bảo và chỉ dẫn, ông bà cũng ham, nộp đại cái đơn xin trợ cấp nhà (housing).
Thế mà chẳng ngờ ít lâu sau lại được, đơn xin có kết quả, và ông bà Mẫn xin con cho dọn ra riêng, về căn chung cư của chính phủ cấp cho những nguời thu nhập thấp như ông bà.
Căn hộ chung cư vỏn vẹn một phòng khách nhỏ, một phòng ngủ cho hai ông bà và một khoảnh diện tích dành làm phòng ăn. So với căn nhà khi còn ở Việt nam, như thế này là đầy đủ tiện nghi và sang chán.
Ông bà Mẫn lấy làm thỏa mãn, dành hầu hết thì giờ thu vén căn nhà riêng cho tuơm tất gọn gàng – Đó là tổ ấm của đôi chim già trong phần cuối cuộc đời nơi đất khách.
Hàng tháng chính phủ Mỹ chuyển tiền trợ cấp an sinh xã hôi vào ngân khoản trong nhà băng của ông bà. Số tiền cố định tuy không nhiều, nhưng tạm đủ chi những sinh hoạt phí căn bản cho đời sống như điện, nuớc, chất đốt, rác ruởi và chợ búa.
Ngày xưa ở Việt Nam, các cụ mình bảo “Ăn tốn nhiều, chứ ở tốn bao nhiêu”, sang nuớc nguời ta thì ngược lại “Ở tốn kém nhiều, chứ ăn chẳng tốn bao nhiêu”. Nay tiền nhà là cái tốn kém nhiều thì ông bà Mẫn đã đuợc chính phủ chi trả cho gần hết, tuy hưởng trợ cấp có bị ràng buộc đôi điều, nhưng tha phương như thế, thôi thì quá tốt.
Do quen sống căn cơ, chắt chiu thu vén, không có nhiều nhu cầu, bà Mẫn lại khéo tay muối dưa muối cà theo đơn đăt hàng của một nhóm cộng đồng nguời Việt quen biết trong nhà thờ. Ông Mẫn cũng cắt cây cắt cỏ lằng nhằng. “Năng nhặt, chặt bị”, hai ông bà cứ nhặt nhạnh và cất dành những đồng tiền nhỏ bé. Trời thương, cũng không đau ốm bệnh tật gì nên cứ ngày qua ngày trôi đi trong hạnh phúc thật là đơn giản.
Sáng nay thứ sáu nghỉ làm, ba mẹ con cái Thu lái xe sang thăm ông bà từ sớm. Thu là con gái thứ hai, có chồng và hai con, ở cách ông bà chừng muơi phút lái xe.
Vào cửa, thấy mẹ, Thu toét miệng cười, xà xuống:
– Mẹ ạ, hôm nay con nghỉ, mẹ muốn đi đâu con đưa mẹ đi.
Bà Mẫn ngần ngừ:
– Để mẹ nghĩ xem nào … mẹ chưa định đi đâu cả.
Thu mời thêm:
– Mẹ cứ nghĩ đi, con rảnh cả ngày, con chở mẹ đi thoải mái.
Ông Mẫn ngồi xem báo vọt miệng nhắc:
– Bà nhờ con nó chở đi mua cải muối dưa và mua muối, nhà sắp hết rồi đấy.
Bà Mẫn reo lên:
– Ờ phải, tôi quên nhà sắp hết muối.
Hai đứa con của Thu reo lên:
– Hoan hô bà ngoại đi chợ mua muối… xong mình đi Mc Donald nghe mẹ.
Thu bảo con:
– Ông bà ngoại đâu có thích Mc Donald, ông bà chỉ thích phở thôi.
Thằng bé hơi xụ mặt một tí, xong vỗ tay:
– A, vậy mình đi ăn phở. Phở có tuơng đen phải không mẹ?
Thu gật đầu:
– Phải, phở có tuơng đen.
Thế là cả nhà đi chợ mua cải muối dưa, mua mắm muối và đi ăn phở. Chiều thứ sáu thật đẹp với khung cảnh đầm ấm gia đình
Hai bên đường chói chan mầu nắng, trên trời không một gợn mây. Trời không có gió. Trong xe ngột ngạt, Thu phải mở máy lạnh cho mát mọi người.
Ngồi trong tiệm phở, chợt Thu nhắc mẹ:
– Bố mẹ ơi. Hôm nọ thím Tuấn gọi điện thoại nhắn năm nay chú thím làm giỗ bà. Sắp đến giỗ rồi, bố mẹ sang Cali ăn giỗ, rồi ở chơi mươi ngày với chú thím cho vui, nhân thể trốn nóng Texas cho khỏe.
Bà Mẫn lẩm nhẩm:
– Ừ sắp giỗ bà, năm nay chú thím làm giỗ.
Rồi quay sang ông Mẫn:
– Mình sang Cali một chuyến ông nhỉ.
Ông Mẫn gật đầu. Ông đang lim dim hồi tuởng quá khứ của mấy anh em ông thời trai trẻ.
Bà Mẫn vẫn tần ngần:
– Nhưng con ạ. Đi rồi nhà cửa…
Thu nhanh nhẩu:
– Nhà cửa có con và em Tuyết. Có mưoi ngày thôi… mẹ khéo lo…
Và thế là ông bà Mẫn khăn gói đi Cali một tuần sau đó.
Giữ đúng lời hứa. Thu vàTuyết chia nhau sang ở ngủ trông nhà cho mẹ.
Thời gian qua nhanh, chỉ hai ngày nữa ông bà Mẫn sẽ trở về. Cuối tuần nghỉ, Thu Tuyết bàn nhau dọn dẹp nhà cửa cho bố mẹ.
Khiếp, mẹ là chúa cất giữ đồ. Cái gì cũng giữ, quần áo từ Việt Nam mang sang, chai lọ đủ loại, bát chén, tô chậu, hộp plastic, bao nylon, nồi niêu, đồ sành sứ linh tinh, bình tích, que đan, chổi cùn rế rách…. bố thì tàng trữ những mặt hàng khác, dao rựa, đe, búa, đồng hồ, linh tinh đủ thứ… Thu và Tuyết bỗng thuơng bố mẹ, hai cô ra sức thu dọn gọn gàng, chất vào xe, chở sang hội nhà thờ cuối phố, lòng thấy nhẹ nhàng, hể hả vì đã giúp làm sạch sẽ quang đãng trong nhà bố mẹ và lòng hân hoan chuẩn bị giờ đi đón bố mẹ với tấm lòng hiếu thảo.
Đảo mắt nhìn quanh, Thu chống nạnhdí dỏm bảoTuyết:
– Bố mẹ về, cứ là phục lăn hai đứa mình.
Tuyết hùa theo:
– Đương nhiên rồi. Mẹ hết chê tụi mìnhlười.
Và hai cô cười vang đắc ý.
Đến giờ ra phi trường. Thu nghĩ sao bảo Tuyết:
– Hay là để chị và hai cháu đi đón ông bà, em ở nhà nấu cơm, bố mẹ về có cơm nóng canh sốt cả nhà cùng ăn.
Thu gật đầu:
– OK.
Sân bay Dallas nổi tiếng là phức tạp, nhưng hôm nay tương đối vắng, nên đón nhanh. Ngồi trong xe về nhà, hai thằng cháu tíu tít hỏi ông bà ngoại đủ điều, nào là Cali có vui không, ông bà đi chơi có thích không… và nó khoe:
– Đố ông bà biết, ở nhà mẹ con và dì Tuyết làm gì cho ông bà?
Bà Mẫn chưa nghĩ ra câu trả lời thì xe đã về tới cửa.
Ông bà tíu tít xuống xe, Tuyết ào ra xác vali cho bố mẹ.
Ông Mẫn gạt đi:
– Con xách cho mẹ thôi, bố tự xách đuợc.
Và ông xăng xái đeo cái túi xách đi vào nhà.
Ôi chao căn nhà dường như khang trang quang đãng hẳn. Khuất sau bệ thờ chúa, chiếc bàn nuớc quen thuộc, lúc ra đi lủng củng, bây giờ gọn ghẽ làm sao.
Nhưng thoáng một cái, ông giật mình hỏi nhỏ:
– Cái ấm tích trên bàn con dọn đi đâu?
Tuyết nhanh nhẩu:
– Tụi con chở đi rồi bố ạ.
Ông Mẫn sựng người
– Con chở đi đâu?
Thấy bố quan tâm, Tuyết gãi đầu:
– Chở sang hội nhà thờ bán garage sale rồi bố, nhìn nó cũng xinh xắn, nhưng lủng củng chật nhà. Bố có hai ba cái , cái ấm cổ lỗ sĩ đó cho bớt đi cho gọn nhà bố ạ.
Ông bà Mẫn nhìn nhau. Ông Mẫn ngẩn ngơ:
– Con chở đem cho hôm nào?
Tuyết nhanh nhẩu:
– Mới hôm qua thôi bố.
Bà Mẫn thấp giọng:
– Con chở mẹ ngay sang nhà thờ, may ra còn kịp.
Tuyết vẫn đùa:
– Mẹ lại tiếc của rồi. Đồ cũ, vứt bớt đi cho nhà nó sạch. Nếu mẹ tiếc, con mua biếu bố mẹ cái mới.
Bà Mẫn quyết liệt:
– Không, không cũ mới gì sất. Chở ngay mẹ sang nhà thờ.
Nói rồi bà lôi Tuyết ra cửa, bắt chở bà đi cho bằng được.
Tuyết rên lên:
– Mẹ ơi, có mỗi cái bình tích cũ, mẹ tiếc làm gì!
Bà Mẫn rên rỉ:
– Cả chục ngàn con ạ.
Tuyết vừa lái xe vừa cuời sằng sặc:
– Mẹ khéo tưởng tuợng, là đồ cũ chứ có phải đồ cổ đâu mà cả chục ngàn.
Xe đậu trước cửa nhà thờ. Trời đã tối, nhà thờ không còn ai ở đó. Hai mẹ con ra về. Trên đường về, bà Mẫn thẫn thờ. Tuyết nhìn mẹ bất thường, chợt hỏi:
– Mẹ làm sao vậy.
Bà Mẫn nói như kẻ trong mơ:
– Con ơi, bố mẹ cất mười hai ngàn trong cái bình tích đó. Con đã hiểu ra chưa!?
NGUYỄN THỊ TỐ LIÊM
Nguyễn thị Mắt Nâu
(tặng: ThủyTiên, QuỳnhTiên, Vũ Duy)
Tố Liêm là một con mèo tam thể trắng, với cái đốm ba màu,vàng , nâu, đen, ở trên lưng và đôi mắt xanh ve pha xanh lơ tất nhạt.
Đặc điểm của Tố Liêm là bắt chuột rất giỏi và ăn vụng rất tài tình. Tài ăn vụng của Tố Liêm siêu đẳng đến độ trong nhà ngoài ngõ đều biết và cảnh giác. Thế nhưng nhờ ưu điểm hay bắt chuột cho cả xóm, nên cái tội ăn vụng cũng nhẹ đôi phần.
Tố Liêm đến với gia đình Quỳnh trong một buổi sáng có nắng vàng, có chút gió và có cả tiếng nhạc bên hàng xóm vẳng đưa trong không gian yên tĩnh thật buồn.
Hôm ấy Quỳnh đi học với chị Tiên và em Duy.
Ba chị em về tới cửa nhà – Căn nhà mẹ cũng vừa mới dọn về, khu phố Hoàng Hoa Thám, một con đường nhỏ, đầu đường có trường trung họa Hoàng Hoa Thám, vào chút nữa, có đền Hai Bà Trưng, với con voi khổng lồ bằng đá. Ngôi đền mà hàng năm tới lễ hội Hai Bà, người đến lễ thật đông, tưng bừng với tiếng trống thùng thùng muốn vỡ cả trái tim trong lồng ngực.
Căn nhà mới về, nằm khuất sau một mảnh sân trước hoang liêu, cái cổng rào hoang dã, giữa hai mảnh sân hai bên hàng xóm cùng có cây mận roi sai trái dễ thương thơ mộng.
Những hôm có gió, nghe tiếng lộp bộp rơi của những trái mận trên sân, Quỳnh thấy lạ và thích thú. Mẹ quét lá, gom thành đống, châm lửa đốt. Mảnh sân trước um khói và thơm mùi lá mận… Và đó là hình ảnh đầu tiên ấm cúng của căn nhà mới dọn về.
Tới cổng, đang xem mẹ lui cui gom lá mận. Tiếng ai động cổng rào. Tiên, Quỳng Duy nhìn ra…. Ông Hải, người em kết nghĩa của ông ngoại, đứng sau cổng rào, trên tay ôm một cái lồng, bên trong có con mèo nhỏ.
Mẹ chạy ra mở cửa đón ông:
– Chào chú mới tới.
Tiên, Quỳnh Duy đồng thanh chào lớn:
– Cháu chào ông.
Ông cuời đáp lai:
– Chào các cháu.
Và ông nhẹ nhẹ đặt cái lồng có con mèo xuống. Con mèo tam thể nhốt trong cái lồng, được cột một sợi dây màu vàng xéo qua cổ vòng qua một chân trước. Rồi ông từ từ tháo cái chốt cài, ẵm con mèo ra khỏi cái lồng nhỏ như cái lồng chim và đặt nó xuống đất.
Con mèo ngơ ngác, nhưng không vùng chạy, mà lân la đến cọ cọ vào chân Quỳnh. Quỳnh lùi lại, mẹ vội bảo:
– Mèo nó thích cọ, không cắn đâu, đừng sợ.
Ông Hải bảo mẹ:
– Cháu dọn nhà được mấy hôm rồi phải không? Chú ghé qua nhà cũ, anh cháu cho địa chỉ này, chú ghé thăm cháu, nhân tiện có con mèo …
Ông ngó sang con mèo như giới thiệu:
– Nó xinh xắn và hay chuôt. Nuôi nó, nó bắt chuột cho vui.
Mẹ nhìn ông Hải, có lẽ ông đoán ra, nên ngập ngừng một lúc rồi giải thích:
– Cháu muốn biết mèo có giỏi chuột hay không thì xách cổ mèo lên như thế này, nó co dúm lại là hay chuột, còn nó duỗi thẳng là mèo làm biếng.
Miệng nói, tay ông xách cổ con mèo. Con mèo tam hể dẫy nhẹ trong tay ông, rồi co tròn trên tay ông, vì ông đang túm một nhéo thịt nơi gáy, xách cổ nó lên.
Quỳnh nhìn con mèo xót xa.
Ông Hải hiểu ý, nhìn Quỳnh cười:
– Mèo xách cổ, nó không sao đâu. Thế, cháu thích con mèo không?
Quỳnh nhìn mẹ. Mẹ nhìn ba đứa:
– Mấy đứa thích không? Thích thì mẹ nuôi.
Quỳnh reo lên:
– Dạ thích. Nuôi đi mẹ.
Mẹ quay qua ông Hải:
– Cám ơn chú đến thăm, còn mang cho cháu con mèo.
Ông Hải cười, cột con mèo vào gốc cây Mai, nó hiền từ ngồi xuống, thản nhiên đưa tay ra trước miệng, lè lưỡi liếm liếm rồi xoa lên trán.
Quỳnh reo lên:
– Con mèo làm gì vậy mẹ?
Mẹ giải thích:
– Mèo đang rửa mặt.
Quỳnh trố mặt:
– Eo. Rửa mặt sao lại bằng tay. Dơ quá. Để con vào lấy khăn lau cho nó.
Ông Hải nhìn mấy chị em Quỳnh lăng xăng với con mèo một lúc, ngồi xuống, thăm hỏi và nói chuyện với mẹ. Ông nhắc lại chuyện cũ, lúc ông còn độc thân, về sống với gia đình ông bà ngoại Quỳnh, đó là thời gian ông ngoại di cư vào Nam và xem ông như người em.
Ông bảo mẹ:
– Cháu lúc ấy còn mặc tã, chả biết gì… Bố mẹ cháu cưu mang và đối với chú tốt hơn ruột thịt.
Và mắt ông rơm rớm.
Ông đang nhớ quá khứ, cái quá khứ êm đềm của ông và gia dình nhà mẹ thời mẹ còn thơ ấu. Mẹ biết ông xúc động khi nhắc chuyện ngày xưa… Ông bà ngoại nay cũng chẳng còn, nhưng ông vẫn giữ cái tình nghĩa gia đình, cái vị trí là em của ông bà ngoại.
Ông vờ cúi xuống, che dấu xúc cảm, tháo con mèo ra khỏi gốc Mai, đưa cho Qùynh và bảo:
– Ba đứa đem mèo vào trong, chơi với nó, để ông chú nói chuyện với mẹ.
Lúc ấy bầu trời xanh lơ, nhạc bên hàng xóm mở lớn những bản tình ca thời chiến, xuyên qua nhữngkhu vườn đầy lá, nghe mà rưng rưng buồn.
Tàng lá mận xanh um xì xào, rung rinh trong nắng, đôi quả mận rơi xuống đất, nứt ra, nằm phơi trên đất.
Ông Hải ngồi chơi một lúc, chào từ giã ra về.
Mẹ kêu mấy đứa ra chào và càm ơn ông.
Và đấy, con mèo đã đến, trong một tình huốmng bất ngờ như vậy.
Khi vào đến nhà trong, mẹ mới hỏi:
– Mấy đứa để con mèo ở đâu? Và đã làm gì cho nó?
Quỳnh láu táu, chỉ con mèo nằm cạnh vách tường nhà sau:
– Nó ở đây này mẹ… Tự nhiên đem vào nhà, nó thích nằm chỗ này. Bây giờ cho nó ăn gì hả mẹ?
Chị Tiên góp ý:
– Thì cho nó ăn cơm.
Quỳnh cãi ngay:
– Nó còn nhỏ, cho nó bình sữa đi mẹ.
Mẹ cười:
– Cơm cũng được, sữa cũng được,nhưng đựng sữa vào chén hay đĩa chứ không đựng vào bình sữa.
Quỳnh vỗ tay vang nhà:
– A ha, để con đi pha sữa.
Sữa được bưng ra trong một cái ly cao.
Quỳnh khựng lại:
– Bây giờ phải làm sao? Mình bưng cho nó uống hả mẹ?
Mẹ phì cười:
– Không. Múc một ít ra chén hay đĩa, chứ để trong ly làm sao mèo uống được.
Và khi sữa được đổ ra cái chén, Tiên, Quỳnh, Duy ngạc nhiên mở mắt to nhìn mèo liếm, liếm rất gọn, từ từ hết số sữa vửa cho vào chén.
Hồi nãy mèo liếm tay rửa mặt, bây giờ mèo liếm sạch chén sữa, là hai hiện tượng kỳ thú lạ lùng mà Quỳnh nhớ mãi suốt thời thơ ấu. Và chính thế bản năng yêu thú vật trong Quỳnh đột nhiên bộc phát. Quỳnh yêu con mèo nhỏ ông Hải vừa cho và nảy sinh xem nó như một thành viên của gia đình.
Quỳnh quay qua bàn với chị Tiên, nghiên cứu chuyện con mèo – Chứ em Duy chưa biết gì, với lại em là con trai, chẳng ưa những chuyện lăng xăng vớ vẩn, em chỉ sờ con mèo một cái rồi ra chơi chỗ khác.
Cuối cùng hai chị em đem ra cầu cứu mẹ.
Quỳnh nghiêm trọng:
– Mẹ. Trước hết mình đặt tên cho nó, xong rồi mẹ nhớ cho tên vào sổ gia đình, nó là em tụi con nghe mẹ. Mẹ nhớ phải gọi nó là con, xưng mẹ, nghe mẹ.
Mẹ gật đầu:
– Ừ, nó là em của tụi con. Vậy mấy đứa định đặt tên cho nó là gì?
Quỳnh láu táu
– Nó là con gái phải không mẹ? … Con đặt nó là Nhung Tiên được không.
Tiên phì cười, lè lưỡi:
– Nghe mà nổi da gà.
Quỳnh cãi:
– Thì chị Tiên là Thuỷ Tiên, em là Quỳnh Tiên, nó là Nhung Tiên, có gì mà nổi da gà?
Tiên phản đối:
– Thôi, nghe Nhung Tiên thấy mà ớn. Đặt tên khác đi Quỳnh ơi.
Hai chị em cố nghĩ thêm năm bảy tên khác kèm theo chữ Tiên, nhưng vẫn chưa hài lòng.
Tiên ra dáng hiểu biết:
– Thì tên khác cũng được, tại sao cứ phải tên Tiên. Nó là mèo chứ có phải người đâu.
Quỳnh phụng phịu:
– Nhưng nó là em mình… Ừ… tên khác cũng được, chị Tiên nghĩ đi.
Mẹ góp ý:
– Mẹ có cái tên này nghe cũng ngộ ngộ hay hay, mấy đứa có muốn nghe không?
Tiên, Quỳnh nhao lên:
– Tên gì hay hay hả mẹ?
Mẹ thủng thỉnh:
– Nguyễn thị Tố Liêm.
Quỳnh và Tiên tròn vo đôi mắt:
– Tố Liêm? Tên đẹp há mẹ. Nhưng Tố Liêm có nghĩa gì không mẹ?
Tiên nhanh nhẩu:
– Có, có chứ.A, con biết rồi. Tố Liêm là Liếm tô.
Quỳnh ôm bụng cừơi một lúc, xong phản đối:
– Tên hay, nhưng tội nó.
Tiên phản đối:
– Tội gì! Nó liếm tô sạch bách. Cái tên vừa đẹp vừa đúng còn gì nữa. Rồi, xong. Gọi nó là Nguyễn thị Tố Liêm.
Gọi thêm em Duy vào, cả ba quyết định đồng ý con mèo mang tên Nguyễn thị Tố Liêm.
Tố Liêm từ đấy sống trong vòng thân ái của ba chị em Quỳnh. Tố Liêm lớn nhanh và đến tuổi bắt chuột.
Hồi đó ông Hải xách cổ mèo để trắc nghiệm xem con mèo con nào hay chuột, con nào lười biếng, thế mà trúng phóc.
Tố Liêm co tròn, nên siêng năng bắt chuột. Bắt chuột đến độ kinh hoàng. Cứ thấy Tố Liêm nhè nhẹ nằm trên xà gác hay sang bên hàng xóm một lúc là khi trở về đã thấy nó ngoạm theo con chuột. Răng mèo cắn ngập vào da thịt chuột. Nhìn con chuột trong miệng mèo, rỉ máu, thấy tội.
Có hôm Quỳnh quan sát Tố Liêm vờn chuột, tát qua tát lại, con chuột nhừ tử, khờ luôn, và Tố Liêm vờn một lúc, chộp lấy dễ dàng, ăn ngấu nghiến, nhất là cái đầu.
Những lúc ấy Quỳnh thấy Tố Liêm ranh ma quỉ quái chứ không yểu điệu hiền lành như lúc ăn, lúc ngủ. Và tư tưởng Quỳnh bắt đầu nhen nhúm về những bộ mặt khác nhau của cuộc đời, của một bản chất, bản chất của một sinh vật sống. Nhưng cũng từ đấy, Quỳnh thấy mình thương và có khuynh hướng tìm hiểu về thú vật, nói riêng là tìm hiểu về mèo.
Một buổi chiều tắt nắng, Tố Liêm đi đâu về, uể oải, chui vào gầm tủ nằm thở dốc. Quỳnh lo Tố Liêm đau.. nhưng không, Tố Liêm vẫn trở dậy ăn cơm và buổi tối vẫn rình mò sau nhà bếp.
Khi ba chị em bài vở đã xong, thì nghe Tố Liêm kêu. Chả hiểu sao nó cứ luẩn quẩn bên chân mẹ, cào cào như gọi. Bụng Tố liêm căng phồng, thở thoi thóp. Mẹ sờ nhẹ vào bụng Tố Liêm, bảo nhỏ mấy đứa:
– Tố Liêm đau bụng đẻ đấy. Tội nghiệp.
Quỳnh quýnh quáng:
– Có cần thoa dầu không hả mẹ?
Mẹ cười:
– Không, không cần thoa dầu. Để mẹ lót ổ cho nó nằm.
Và đêm hôm ấy., Tố Liêm cho ra đời bốn con mèo nhỏ, trong cái rổ mẹ lót tấm khăn lông cũ.
Sáng trở dậy đi học, Quỳnh nghe tiếng mèo con kêu yếu ớt, vội chạy lại cái rổ lót hôm qua sau cánh tủ, thấy Tố Liêm nằm cho con bú, miệng liếm liếm từng con mèo nhỏ xíu xiu, chưa mở mắt, Quỳnh miệng reo lên:
– Chị Tiên, ra đây coi bốn con mèo nhỏ nè.
Mẹ nhắc nhở:
– Tố Liêm đẻ đêm qua. Ngó thôi đấy. Đừng sờ vào mèo con, có hơi người, mẹ nó tha con nó đi chỗ khác mất.
Chưa kịp sờ gì cả. Tố Liêm thấy nguời dòm ngó, vội ngọam cổ mèo con nhẩy lên đầu tủ, dấu. Xong một đứa, nhảy xuống tha đứa nữa và đứa nữa, cứ thế nhẩy lên tủ liên tiếp bốn lần… Khi bốn đứa con đặt trên đầu tủ xong, Tố Liêm nhảy đi uống nuớc, để mặc mèo con kêu léo nhéo.
Sáng hôm sau, đến giờ đi học, Quỳnh phải đi, nhưng trong lòng xao xuyến không yên. Quỳnh nghĩ đến cái ngộ nghĩnh ngây ngô và cái quỷ quyệt của cái giống mèo.
Trưa hôm ấy, đi học về, Quỳnh sà lại ngay cái rổ mèo. Tố Liêm chả hiểu sao đã lại tha con về chỗ cũ.
Mẹ bảo Quỳnh:
– Nó tha con lên đầu tủ. Sáng nay có một con rớt xuống, mẹ nhặt bỏ vào rổ, dỗ ngọt Tố Liêm một lúc, nó chịu vào nằm lại trong ổ, nhưng cứ lăm le tha con đi chỗ khác… và Tố Liêm đẻ, để lại cho mẹ cái nhau mèo…
Quỳnh chẳng hiểu “nhau” là cái gì, nhưng thấy mẹ vui nên chẳng hỏi, chỉ nghe mẹ giải thích:
– Thường mèo đẻ con xong là ăn “nhau”. Tố Liêm không ăn, chừa lại cho mình. Người ta bảo được “nhau” mèo thì hên lắm.
Đám mèo con suốt ngày bú mẹ.Tố Liêm là một bà mẹ tốt. Đi ra ngoài, trở về cho con bú rất đúng giờ. Nhưng sau khi sanh nở, Tố Liêm ngoài tính hay bắt chuột cố hữu, bắt đầu lộ rõ chân tướng ăn vụng, và có một nghệ thuật ăn vụng tài tình, có thể nói là xuất quỉ nhập thần.
Lâu lâu nghe hàng xóm hô mất cái tỏi gà, mất con cá chiên, mẹ thì thầm bảo Quỳnh:
– Lại Tố Liêm nhà mình. Chết, họ mà bắt được, họ đập cho què giò.
Nhưng chẳng ai bắt được Tố Liêm. Quỳnh vừa lo, vừa ái ngại. Và một hôm Quỳnh cười gần chết khi nghe mẹ kể:
– Cái con Tố Liêm này siêu đẳng thật, mẹ để một đĩa cá, đậy tô, hai lần rổ, chặn một vật nặng lên trên, xong bỏ vào trong trạn. Thế mà khi phát giác cánh cửa trạn mở toang, chốt cửa xoay ngang, hai lần rổ ngửa ra, cái tô bị xô lệch… và cá trong đĩa biến mất. Thì ra nó ngồi xơi cá ngay trong trạn. Cái rổ, cái tô, đồ chận, nằm theo thứ tự, không rơi vỡ cái nào.
Và hôm ấy báo hại cả nhà mất thức ăn chiều.
Bốn đứa con của Tố Liêm tròn vo mập ú và xinh xắn.
Quỳnh bây giờ đã có kinh nghiệm nuôi mèo. Bàn với chị Tiên đặt tên cho từng đứa theo giới tính đàng hoàng.
Này nhé, một con đực, ba con cái:
– Thằng Tù Lì.
– Con Ay.
– Con Đốm.
– Con Cộc.
Thêm vào sự chăm sóc và nuôi nấng, Quỳnh huấn luyện bầy mèo con những trò vớ vẩn nhưng cực kỳ dễ thương, đáng nhớ, như là húc húc đầu vào cằm và rón rén thử móng nhẹ nhẹ trên bụng em Duy. Tố Liêm nay đã là mẹ của bầy con bốn đứa, nhưng vẫn quấn quít và nhí nhảnh vờn đuổi sợi dây mỗi khi chị em Quỳnh đưa qua, quăng lại, lúc ấy cặp mắt Tố Liêm long lanh, sáng quắc. Và có lẽ cái đáng nhớ hơn cả là mỗi khi Tiên, Quỳnh, Duy đi ra khỏi nhà, cứ phải trốn để Tố Liêm khỏi đi theo. Và khi ba chị em trở về nhà, từ trong bui cây, Tố Liêm nhảy ra mừng rỡ như một con chó nhỏ mừng rỡ chủ nhà. Tố Liêm đã gây sự xúc động cho chị em Quỳnh, và hàng xóm thấy cảnh ấy, ai cũng ngạc nhiên, bảo mấy đứa rằng:
– Con mèo ngộ ha. Biết mừng đón chủ về như chó vậy. Mấy cháu dậy mèo sao giỏi quá vậy?
Và đó là niềm tự hào và là niềm hạnh phúc của Quỳnh trong suốt thời thơ ấu.
Tố Liêm đã đến, đã mang niềm vui, tình thương và hạnh phúc thật nhiều cho chị em Quỳnh.
Bầy con cái của Tố Liêm đã lớn, đã không còn là những con mèo nhỏ. Con Ay, con Đốm, con Cộc, với thằng Tù Lì vẫn vô tư đùa giỡn, mà Tố Liêm bỗng bỏ đi biền biệt không về.
Quỳnh vào ra trông ngóng, lo Tố Liêm đi ăn vụng bị ngưòi ta đánh chết.
Rồi một ngày, một tuần, hai tuần, ba tuần… Tố Liêm chẳng thấy đâu.
Ba chị em Quỳnh vẫn chờ, chờ mãi cho đến lúc biết Tố Liêm đi chẳng bao giờ về nữa. Quỳnh buồn và khóc. Quỳnh ôm bầy mèo con mà nhớ Tố Liêm.
Lúc ấy mẹ mới nói với Quỳnh một sự thật não lòng:
– Mèo già thường đi chết ở một nơi nào không ai biết. Đó là qui định của trời. Đừng khóc nữa. Hãy cầu nguyện cho Tố Liêm đuợc sung suớng an bình nơi cõi khác.
CHIẾC ÁO MÀU HOA ĐÀO
Nguyễn thị Mắt Nâu.
Từ trên gác nhìn qua khuôn cửa sổ, Lòng Kim chợt xôn xao.
Cây hoa đào góc sân trổ bông lốm đốm. Màu hoa đào thật nhạt, mênh mang trong sắc chiều ủ dột sau mấy ngày mưa.
Trời se se lạnh, bờ dậu xanh xanh, và các nhánh đào màu nâu nhạt xòe như nan quạt, trông mảnh khảnh, khẳng khiu, gầy guộc.
Nhìn thêm một lần nữa, Kim thấy mình râm ran hạnh phúc. Cái hạnh phúc nhẹ nhàng, như mỗi lần nằm im trong bóng tối,
Kim thường tưởng tượng mình được lịm đi, lịm đi dần và trút hơi thở cuối cùng. Cái hơi thở cuối cùng tuyệt diệu!!
Những cành đào đã khô, tưởng chết, hôm nay lại bừng lên sức sống.
Trong khoảnh khắc Kim thấy mình trẻ lại, cùng lúc với quá khứ dào dạt tràn về. Kim nhớ:
Cái dáng cao gầy của bố…. Chiếc bình sứ trắng…. Con mèo đen ngái ngủ… Và chiếc áo màu hoa đào, món quà bất ngờ của bố…
Lần ấy chả hiểu bố vui gì, nổi hứng gọi Kim với chị Tuyền, cho tiền may áo.
Bố bảo :
– Bố cho hai đứa tiền đi mua vải may áo dài…đừng thông qua mẹ nhé. Chờ mẹ ‘duyệt chi’ thì không kịp tết đâu!
Kim với Tuyền nháy mắt, ba bố con cười xòa.
Tội nghiệp mẹ, lúc nào cũng cân nhắc chi thu tài chánh gia đình, mẹ chỉ chi nhanh những khoản, theo mẹ là “nhu cầu”,
Còn những cái khác đều thuộc về xa xỉ, mà đ ã là “xa xỉ” thì câu mở đầu quen thuộc của mẹ thường là:
– Từ từ để mẹ xem cái đã.
Để mẹ xem, thỉ kể như “huề”, hoặc đôi khi sự việc trở nên mất thời gian tính…
Chiều hôm sau Kim và Tuyền hớn hở mang hai xấp hàng về khoe bố. Chị Tuyền chìa ra xấp hàng màu xanh da trời, tíu tít:
– Bố ơi bố, bố có thấy màu xanh thiên thanh này ngọt lịm hay không ?
Bố cười, gật gật đầu và quay sang Kim hỏi:
– Còn Kim, áo con chọn áo màu gì?
Kim e ấp chìa ra:
– Màu hoa đào bố ạ. Bố xem, cũng ngọt lịm như màu thiên thanh của chị .
Bố cười trừ:
– Ừ, cả hai màu cùng ngọt. Hai đứa đem đi may cho kịp tết .
Năm ấy Kim mười chín, cái tuổi đẹp nhất của đời con gái.
Và mùa xuân năm ấy có lẽ cũng là mùa xuân đẹp nhất đời Kim.
Mặc lên tấm áo màu hoa đào, Kim có cảm giác mình lớn và đẹp hẳn.
Đẹp trong ánh mắt thương yêu của bố và qua ánh mắt nhìn của những chàng trai.
Kim hạnh phúc, cái hạnh phúc đơn thuần, giản dị và trong sáng.
Thế mà thật oái oăm, hôm đi lễ chùa về, bị mấy lỗ lủng vì tàn nhang trên tà áo, Kim buồn muốn khóc,
Chị Tuyền nhanh nhẩu:
– Có mấy lỗ nhỏ xíu thôi mà…. Để chị đi mượn mẫu hoa đào, mình mua chỉ màu, thêu chồng lên là hết.
Có khi lại đẹp hơn nữa không chừng!
Kim ỉu xìu:
– Đành vậy chứ biết làm sao!
Thế là chị Tuyền đi mượn mẫu hoa về, hai chị em loay hoay in, vẽ, rồi thêu.
Mất nửa tháng, tà áo dài của Kim hoàn tất.
Những đóa hoa đào rơi rắc trên tà áo, chẳng đến nỗi nào!
Chị Tuyền cứ hát ư ử “hoa đào rơi rắc lối thiên thai…”
Chị cố tình hát đổi “lá đào” thành “hoa đào”, xong xoa tay tấm tắc:
– Đep quá Kim ơi. Làm chị cũng muốn thêu vài bông lên tà áo xanh của chị.
Một lần nữa, Kim thấy mình hạnh phúc.
Nhất là hôm hai chị em đi phố, gặp Huy. Qua ánh mắt Huy, Kim có cảm tưởng những cánh hoa đào đang
dìu dặt tung tăng trên tà áo màu hoa đào, giữa khung trời ngập nắng.
Ánh mắt Huy ấm áp, giọng nói Huy ngọt ngào.
Má Kim ửng hồng trong thế giới màu hồng thần tiên nhỏ bé. Kim rộn rã bâng khuâng.
Và chính Kim cũng không ngờ, hai năm sau, Kim với Huy làm đám cưới.
Hôm đám hỏi, Huy đặt may cho Kim một chiếc áo màu hoa đào, thêu những bông hoa đào rải rác thật mỹ thuật trên tà áo.
Cái tỉ mỉ của Huy cho lòng Kim nở hoa hạnh phúc.
Tuyền bảo Kim mang hai tà áo thêu ra so sánh, hai chị em gật gù đắc ý bảo nhau:
“Tà áo mình thêu, tuy mộc mạc, nhưng nó huyền hoặc và có hồn !”.
Kim cười khì khì :
– “Mèo khen mèo dài đuôi”.
Hai chị em lại cười xòa. Và Tuyền cứ lải nhải nghêu ngao “Ôi màu hoa đào, màu hoa đào, chiều xuân nào…
Ôi màu hoa đào, như môi hồng người mình yêu….”
Lúc đó với Kim cả thế giới chỉ có màu hồng là tuyệt nhất và Kim ngất ngây ngắm nghía chiếc áo màu hoa đào yêu kiều diễm tuyệt .
…Thế rồi cuối năm ấy bố qua đời.
Chiếc áo màu hoa đào, với những cánh hoa thêu để lấp đi lỗ lủng ngẫu nhiên trở thành một di vật. Một kỷ niệm khó quên.
Nhìn nó, Kim nhớ bố.
Và Kim càng nhớ bố quay quắt khi cảm nhận được sự thờ ơ của Huy trong cuộc sống quê người.
Một Huy nhiệt tình, nồng nàn ấm áp, một Huy tỉ mỉ, lãng mạn, biết yêu thương…. giờ biến thành một Huy ngại ngùng, né tránh,
vật vờ vô trách nhiệm, thu mình lại và hưởng thụ trong suy nghĩ của riêng mình, mặc Kim buồn vui, đa mang đời sống.
Kim tê tái trong tâm trạng của một khách lữ hành cô độc.
Để những sáng mây hồng, những chiều mây xám, thấy mình lẻ loi, u uẩn một đời.
Cuộc sống vẫn lao về phía trước, nhưng lòng Kim chùng xuống, mệt mỏi đơn côi, và cõi lòng trĩu nặng những hình ảnh thuộc về quá khứ.
Đồng thời quá khứ trở thành người bạn tâm giao giúp Kim qua đi những ngày lạt lẽo.
Kim nhớ bố. Kim nhớ chị Tuyền, chị Tuyền của ngày xưa….Chứ từ khi qua Mỹ, chị đã thành kẻ khác,
trọng hình thức hơn trọng cái tình, thích sống trưởng giả, đầy lý thuyết. Kiêu hãnh vì ở Mỹ lâu năm,
hãnh tiến về nước Mỹ hơn một người Mỹ gốc. Thích nghe ca tụng là một người thành công ở Mỹ.
Chị MUỐN quá nhiều, tiếc vòng tay quá nhỏ, tiếc 24 tiếng một ngày ít ỏi, không đủ thẩm thấu, hít thở,
hưởng thụ và rao giảng những hợp lý, văn minh của Mỹ. Mỹ trở thành khuôn vàng thước ngọc, là đam mê, là thần tượng,
là bứt rứt không đuợc làm kẻ độc quyền xứ Mỹ! Ánh mắt ngưỡng mộ, trìu mến, thiết tha, chị dành cho người Mỹ.
Ánh mắt rẻ rúng, miệt thị chê bai chị dành cho xứ sở và con người còn ỏ Việt Nam. Tích cực nhạo báng
cái nghèo đói, cái ngu dốt, cái kém cỏi, thiếu văn minh của xã hội Việt Nam (Việt cộng) trong bất cứ lãnh vực nào.
Trở vào phòng, Kim lặng lẽ lấy ra hai chiếc áo màu hoa đào, ngẩn ngơ nhìn ngắm.
Áo vẫn còn đây…. Bố đã qua đời.
Huy không phải là Huy ngày trước…
Chị Tuyền “có lòng” của ngày xưa, không còn nữa.
Mất mát quá nhiều!! Kim tê tái, hoang mang, chòng chành đau khổ.
Tất cả như một thoáng mây bay trong vòm trời ẩm ướt.
Xứ Mỹ đang mùa lạnh. Qua khuôn cửa kính, Hoa đào ngoài kia vẫn nở.
Các nhánh cây khẳng khiu hồng lên vì chi chit những nụ và hoa. Đẹp quá!!
Hoa đã nở hầu như gần hết. Kim mênh mang thấy mình cằn cỗi, và già đi trong cái cô quạnh của trần gian.
Chiếc áo màu hoa đào của bố, hồng lên trong mắt. Những đóa hoa thêu ‘mộc mạc’, tung tăng nhảy múa.
Kim úp mặt vào những bông hoa thổn thức.
Còn chiếc áo màu hoa đào của Huy, rũ xuống, xỉn màu đi. Trong phút chốc những cánh hoa rơi lả tả.
Cúi xuống, nhặt từng cánh, từng cánh… Nâng tà áo trong tay, Kim lịm đi trong Chiếc Áo Màu Hoa Đào –
Ngoài kia hoa vẫn nở
(Trích trong tuyển tập NGƯỜI CUỐI CHÂN MÂY của Nguyễn thị Mắt Nâu)
TÌNH ĐẦU – TÌNH CUỐI
* nguyễn thị mắt nâu
Khung trời Portland ẩm ướt và chao lạnh.
Chuyến bay đáp xuống phi trường Portlandd mới chín giờ buổi sáng.
Lần đầu tiên Mai đến nơi này. Cảm giác dễ chịu với không gian ẩm, khác hẳn so với cái khô của California.
Phí tổn khách sạn đã được tính chung vào vé bay của khứ hồi Northwest airline.
Mai theo xe bus về khách sạn. Căn phòng số mười lăm, nằm khuất sau dãy mặt tiền.
Hành trang của Mai là một bóp xách tay và một túi du lịch nhỏ với hai bộ áo.
Mai thấy mình thong thả nhàn du.
Mai không thích bị ràng buộc bởi những hành lý lỉnh kỉnh cầu kỳ quá độ.
Trong những chuyến đi xa, bao giờ cũng thế, Mai nhẩm tính thời gian mấy ngày đi, để mang theo quần áo thích hợp đủ dùng.
Khách sạn vẫn còn giờ cho dùng điểm tâm buổi sáng.
Cất túi xách vào closet. Đeo theo chiếc bóp tay. Khóa cửa phòng. Mai đi vòng qua phiá nhà ăn. Khách điểm tâm vẫn còn rải rác. Mùi cà phê, ấm nhẹ.
Mở tủ lạnh, rót cho mình ly sữa, lấy một quả trứng, và nuớng hai lát bánh mì bơ. Mai kiếm một chiếc bàn, ngồi xuống. Thật thư giãn. Một chút buồn. Và một thoáng chơ vơ lạnh lẽo.
Ăn nhanh bữa sáng. Mai đón xe đi thẳng đến địa chỉ của Yên.
Mai hình dung Yên sẽ nghẹn ngào vui, khi thấy Mai có mặt ở thành phố Hoa hồng này. Cái nơi mà Yên thường hay khoe, hay kể về nó, trong những cuộc điện đàm tâm sự.
Một studio nhỏ trong một cao ốc, quanh năm im vắng đến nhão người.
Tối hôm qua, sau vài câu trao đổi với Yên qua điện thoại nhà. Giọng Yên nghe rất yếu. Người y tá điều dưỡng tư gia cho Mai biết trưa hôm nay bác sĩ sẽ tùy tình hình để quyết định tình trạng chữa trị cho Yên…
Xe đậu lại. Đi thẳng vào building, bấm nút thang máy, lên tầng sáu – Đây rồi 608.
Gõ cửa… Im lặng…. Gõ cửa. Im lặng.
Cả một dãy hành lang dài hun hút gíó. Mai thu mình trong chiếc măng tô. Chờ đợi.
Chờ khá lâu như thế. Không một hồi âm.
Mai lộn trở xuống tầng dưới, tìm tới văn phòng. Vài người Mỹ đen đang luẩn quẩn ngay nơi cửa… Họ cho Mai biết, là Yên đã chết đêm qua, lúc gần hai giờ sáng.
Không kịp gặp Yên, chuyến bay của Mai trở nên mất đi ý nghĩa.
Mai lẩm bẩm : Yên đã chết rồi!
Một cái chết cực kỳ cô độc.
Người nhân viên văn phòng cho Mai thêm chi tiết.
Mai ghi vào giấy, lặng lẽ quay ra. Con đường nhỏ dốc cao, có những bụi xương rồng xanh tốt, dẫn Mai tìm đến thăm Yên ở một nhà quàn cách đó vài con phố.
Nhà quàn nằm trong khuôn viên của một nhà thờ. Yên đang nằm đó. Chơ vơ. Người thân gần như không có. Nhìn Yên, nhớ lại những tâm tình vụn vặt mà Yên thường nói qua điện thoại về cái không gian lạnh lẽo điêu tàn, cái thiếu vắng tiếng người đến hoang mang khủng hoảng… Để bây giờ, Mai đang thấm dần từng lời nhỏ to tâm sự ấy.
Thôi cũng là xong một kiếp người!
Và chả hiểu sao, nhìn Yên nhắm mắt nằm cô đơn lạnh lẽo trong không gian của nhà quàn buổi trưa tĩnh lặng đến ngơ ngẩn của thành phố Portland này… Vụt Mai liên tưởng, cái mầu nắng hanh hanh của một buổi trưa nơi thành phố Biên Hoà, một thời quá vãng.
Một quá vãng chập chùng xa ngút, tuởng quên đã từ lâu, hôm nay bỗng cuồn cuộn trở về.
… Phan của đau thương. Phan của vết tích mối tình đầu đam mê, chiếm hữu – Có vệt máu đầu tiên con gái, cắt ra từ tấm chăn nỉ xanh rêu. Trong đó mang mang giọt nuớc mắt của khoái lạc, bi thương, khắc khoải, rã rời, tê tái.
Tim Mai chợt nhè nhẹ nhói đau. Tất cả đang lênh đênh quằn quại rối bời. Mai không hiểu được tại sao lại thế.
Yên vẫn nằm yên đó. Vầng trán phẳng lặng lờ, cho Mai thèm khát, ngỡ ngàng.
Mai bước đến, đặt đóa hoa lên ngực người đã chết.
Vị linh mục làm dấu thánh giá. Người của dòng xứ nhà thờ bắt đầu tới đọc lễ cầu kinh.
Khóa lễ cực kỳ đơn giản. Không có người thân nào về kịp.
Mai đưa tay lẩm bẩm: Yên ơi vĩnh biệt!
Ngoài trời se sắt lạnh, lún phún mưa bay.
Mây tím lại.
Mai co tay vào túi áo – Hình ảnh đầu tiên cùng Phan song đôi thả bộ trong Đất Thánh Tây năm xưa, xa lắc, hiện về.
Cũng cái nắng hiu hiu nhạt nhẽo, hòa lẫn trong hạt mưa phùn bay bay lắc rắc.
Lần ấy, Phan để tay trên vai Mai, thì thầm bảo:
– Bờ vai gầy này, làm sao em gánh nổi giang sơn.
Mai đã rưng rưng buồn và rưng rưng cảm động.
Đúng là con gái – Dễ xúc cảm vì những chuyện chẳng vào đâu.
Thế rồi đám cưới.
Một bước ngoặt mênh mang, trôi nổi, não nề.
Để những năm sau đó….vẫn bờ vai gầy gầy mỏng manh như thế ấy. Mai đã lủi thủi gánh cả một giang sơn trong héo hon bi thiết lụi tàn.
Giọt nước mắt của một thời thiếu nữ chợt dâng lên nghèn nghẹn… Phan ơi!
Mai của một thời thiếu nữ còn đâu nữa!
Cái tình đầu tưởng đẹp như tranh vẽ, đã biến thành một quá khứ trăn trở buồn đau – Ôi, bức họa trần gian nhạt nhẽo. Mai gục xuống, lênh đênh rã nát.
Portland vẫn lạnh nhão người.
Lầm lũi theo đám đông, tiễn Yên ra phần mộ. Mai không khóc. Trời vẫn còn mưa. Mưa lất phất như trên chuyến đường Saigon, Biên Hoà năm ấy – Ống quần Jean ẩm ẩm nước mưa – Những ngọn cỏ lả bay theo gió – Gọng kính cận nhạt nhòa – Cái tình đầu non dại – Cái vòng tay lỏng lẻo, run người.
Phượng Yên ơi, an nghỉ. Để chẳng bao giờ, chẳng bao giờ nữa, nghe giọng nói… Yên ơi.
Ngày mai, Mai về lại Cali – Thế là thôi vĩnh biệt.
Vỗ giấc ngàn đời. Yên giấc ngàn thu.
Phan là sinh ly – Yên là tử biệt.
Chẳng kiếp này, cũng chẳng kiếp sau. Thôi nhé!
Lại buổi sáng.
Thu dọn, trả phòng. Rời Portland, về lại Cali.
Chuyến xe bus của khách sạn đưa Mai ra phi trường.
Portland còn ngái ngủ với sương mờ ban sớm.
Một chút nhàn hạ, một chút bâng khuâng. Mai bước vào máy bay, ngồi xuống chiếc ghế 12D sát cửa.
Qua khung kính nhỏ, những hoạt động bên ngoài như một mẩu kịch câm.
Mặc ai nằm xuống. Cuộc đời vẫn thế.
Người tiếp viên chào Mai buổi sáng.
Một tách trà thơm, một gói snack nhỏ.
Hình ảnh Tiến vui tươi hiện đến, làm ấm hồn Mai.
Giọng nói chân phương, nụ cười hồn hậu. Tiến của nồng nàn nóng bỏng yêu thương, của chắt chiu cái quỹ thời gian cuối đời ngắn ngủi. Của tiếc nuối và trân quý mảnh tình chung ấm áp ngọt mềm.:
– Anh chỉ tiếc bao năm tình lận đận, đến bây giờ mình mới bắt gặp nhau. Em là một nửa mà anh không thể thiếu. Và hãy cho anh biết, anh có là một nửa của em không? Thời gian còn lại bao nhiêu cũng được, anh muốn được chia sẻ tất cả mọi buồn vui cay đắng… với chỉ một người. Người đó chính là em.
… Xin để lại sau lưng một Portland vời vợi muôn trùng xa thẳm – Phượng Yên đã nằm sâu trong mộ tối.
Và Phan của tình đầu cũng đã vùi rất sâu trong tiềm thức nghiệt ngã không màu.
Trời xanh ơi, hãy xóa sạch dùm đi mọi hình ảnh của Sinh ly, Tử biệt. Để những ngày còn lại sẽ là của vỗ về, chiu chắt yêu thương.
Phi trường LAX xôn xao mầu nắng, náo nhiệt rộn ràng. Chiếc túi xách nhẹ tênh. Tiến đứng chờ ngay cửa.
Giang rộng vòng tay. Miệng cười rạng rỡ.
– Em đã về rồi. Em có mệt không?
Anh chờ em trong nghĩa nặng tình nồng.
California vẫn dịu dàng, vẫn ấm. Lá vẫn mầu xanh.
Mai cười thôi chẳng nói, nép vào trong vòng tay chặt chẽ an toàn. Quá khứ đã xa rồi. Như một tảng băng nứt vỡ tan nhanh… thành dĩ vãng. Thanh xuân xưa chỉ còn chơi vơi trong trí tưởng mơ hồ.
Tình đầu kia oan trái – Vỡ tung như bong bóng xà phòng bay trong lòng gió.
Cái tình cuối muộn màng – Đang đượm mầu, thấm đất, nở hoa.
Em vẫn là em của thuở nào.
Tình đầu và tình cuối – xôn xao
Bao năm lỡ dở – chiều thu lạnh
Hoa nắng chập chùng – bay vút cao.

