Vũ Thị Dạ Thảo là một trong 3 nhà văn thời danh mà Cơ Sở Văn Hóa Đông-Phương đã khám phá cho Nền Văn Hoá Việt-Tộc vào cuối thế kỷ 20. Hai nhà văn kia là Trường Sơn Lê Xuân Nhị và Nguyễn Ngọc Ngạn. Chị hiện định cư tại Toronto, Canada.
Gần 3 thập niên qua, hàng chục tác phẩm của nhà văn Vũ Thị Dạ Thảo đã được ấn hành. Trong đó, 3 tập truyện đầu tiên của chị do Cơ Sở Văn Hóa Đông Phương xuất bản và phát hành gồm: Chúc Thư của Một Người Mẹ Phương Đông, Bản Thánh Ca Tình Ái và Phía Bên Khia Biển Lớn. Văn phong trong sáng và quyến rũ của nhà văn nữ đã được độc giả khắp nơi mến mộ, khiến một số nhà sản xuất băng nhạc đã thu băng nhiều truyện của chị vào các băng đọc truyện để tung ra thị trường.
Vào tháng 8 năm 2002, trong cuộc thi “Thơ Văn Ái Quốc” mở ra cho mọi người Việt trong & ngoài nước tham dự, tác giả Vủ Thị Dạ Thảo với bài thơ “Đồng bào hỡi! Hãy vùng lên phá sạp Lăng Hồ”, đã được tuyển chọn Hạng Nhất Đồng Hạng cùng thi sĩ Hoàng Phong Linh (tức chiến sĩ đấu tranh Võ Đại Tôn).
Người đi vào cõi tử sinh.
Người đàn bà mái tóc hoa râm bước đến bên khung cửa sổ, nơi có chậu hoa hồng vừa mới nở một nụ hoa hàm tiếu tuyệt đẹp. Người đàn bà giơ bàn tay nâng nhẹ bông hoa, đôi mắt buồn rười rượi. Bên ngoài cửa sổ, con đường nhỏ tráng nhựa và mảnh vườn trước nhà chan hòa nắng đẹp. Ong bướm dập dìu vờn quanh những khóm hoa tươi đua sắc thắm chạy ven khoảnh sân cỏ xanh mướt. Chim chóc nhảy nhót chuyền cành hót líu lo. Khung trời mùa Xuân của California, nơi bất cứ thành phố nào cũng trong xanh, và cảnh vật vui nhộn. Người đàn bà đưa mắt lơ đãng nhìn lên khung trời xanh lững lờ mây trắng. Nắng vàng tươi in bóng trong đôi mắt long lanh ngấn lệ. Khung trời hôm nay cũng đẹp và lặng lẽ, như khung trời của hai mươi năm về trước, cũng vào ngày này, ở một nơi xa nơi nàng đang đứng nửa vòng trái đất. Trời thì giống, nhưng cảnh vật và người thì khác xa nhau. Ở đây không có tiếng đại bác đêm đêm vọng về thành phố, hay tiếng súng giao tranh. Ở đây chỉ có cuộc sống bình yên, và dòng đời phẳng lặng. Quận lỵ nhỏ bé này chiều chiều vẫn một người đàn bà tóc xanh xưa đã phai màu tựa cửa, ngóng trông về nơi cõi xa mờ để tìm lại kỷ niệm của một tình yêu muộn màng ngày cũ, có bóng dáng oai hùng của một người lính mũ xanh. Người đàn bà chớp nhẹ mắt, đôi dòng lệ ướt chợt tuôn trào trên má. Có tiếng xe đậu bên hông nhà, rồi tiếng mở cửa lách cách. Một người con gái xinh đẹp bước vào. Người đàn bà quay lại nhìn: – Trang, đi họp sao về sớm thế con? Người con gái đưa cành Hồng tươi gói giấy kính cho mẹ: – Con ngồi bàn việc công ty một chút, rồi giao lại cho người phụ tá thay mặt. Trên đường về con ghé mua đóa hoa này để mẹ thay cành hoa khô. – Lúc nãy thằng Hoài có gọi điện thoại lại xin phép mẹ để đưa con đi sắm đồ cưới. Sao con không đi ngay với nó? – Con đã hẹn lại với anh ấy là buổi chiều rồi mẹ. Mẹ quên hôm nay là ngày tưởng niệm chú Lâm, mình phải đi ra thác hay sao? – Mẹ nhớ chứ. Ra thác thì mẹ đi lúc nào cũng được. Con có việc cần thì cứ đi. – Nhưng hàng năm hai mẹ con mình vẫn khởi hành vào giờ này. Con không muốn thay đổi. Người đàn bà cầm cành hoa tươi bước tới chiếc kệ có bày hộp kính nhỏ, bên trong là một chiếc nón bê-rê màu xanh của binh chủng Thủy Quân Lục Chiến, bên cạnh là đóa Hồng khô. Người con gái đứng sau lưng nhìn mẹ mình thay đóa Hồng khô bằng cành hoa tươi. Nàng lặng nhìn chiếc nón với ánh mắt buồn: – Mẹ còn nhớ ngày đó, vào khoảng giờ này, chú Lâm bắt cá dưới thác nước, nướng cho hai mẹ con mình ăn hay không? Con còn nhớ bàn tay chú cẩn thận gỡ từng cái xương trong miếng cá cho con ăn, nhịn phần nước cho con uống, và… cũng nhờ chú ấy mà hai mẹ con mình còn sống, để con có một tương lai sáng ngày hôm nay… Dù bận việc gì con cũng phải gác lại. Người đàn bà rưng rưng nước mắt cúi nhìn cành hồng khô trên tay. Hai mẹ con im lặng như mặc niệm. Một lúc sau hai người cùng ra xe với một túi đồ lặt vặt. Người đàn bà bưng cái chậu hoa Hồng để cẩn thận trong thùng xe. Chiếc xe hơi chuyển bánh, rời căn nhà xinh xắn. Nửa tiếng sau chiếc xe tiến vào một khu lâm viên và dừng lại ở bên bờ một dòng thác đang chảy cuồn cuộn. Hai mẹ con chui ra khỏi xe. Người con gái chỉ đám hoa xanh tốt trên khoảnh đất trống rực nắng bên bờ suối: – Mẹ xem kìa, mười bốn cây Hồng mình trồng bây giờ đâm nhiều hoa đẹp quá! Gương mặt rạng rỡ, người đàn bà đưa mắt nhìn bao quát cảnh thiên nhiên. Mười bốn năm sống định cư trên đất Mỹ, mười bốn lần trồng hoa Hồng để tưởng niệm người đã khuất. Khu đất trống bên hạ nguồn dòng thác đổ đã biến thành một vườn hoa thật đẹp. Những cây Hồng đã lớn, vươn cao, xum xuê hoa lá. Cây Hồng trong thùng xe được lấy xuống. Trang phụ mẹ lấy xẻng đào lỗ, để trồng cây hoa Hồng mới. Người đàn bà lấy cái xô nhỏ xuống bờ thác múc nước mang lên, tưới vào gốc hoa. Xong xuôi, hai mẹ con đứng nhìn công trình của mình với vẻ mãn nguyện. Mặt trời đã đứng bóng. Hai mẹ con rời mấy khóm Hồng, đi bộ ngược lên thượng nguồn. Người đàn bà bước lên một gộp đá nhô lên khỏi mặt nước sát bờ, đứng yên lặng. Nước trong vắt cuồn cuộn chảy như dòng thác nơi núi rừng ngày đó của hai người. Bây giờ cũng một dòng thác như thế, nhưng chỉ còn lại người đàn bà cô đơn với kỷ niệm thật buồn. Người đàn bà mở gói giấy, lấy cành Hồng khô mang theo, thả nhẹ xuống dòng nước. Nước chảy, hoa trôi, như dòng thác lũ năm nao đã cuốn đi một tình yêu nhẹ nhàng, ngắn ngủi. Người đàn bà gục mặt xuống hai lòng bàn tay, nấc lên. Dĩ vãng năm xưa chợt theo dòng nước mắt nàng trở về… *** Trời nóng như thiêu đốt. Cảnh vật bị nướng cháy trong ánh nắng trưa hè gay gắt. Khu làng nhỏ của xứ chùa tháp đang chìm trong bầu không khí im lìm, chết chóc đến rợn người. Mấy hôm nay, bọn Miên khát máu lại kéo về đây để cướp của và ‘cáp duồn’ những gia đình Việt Nam cư ngụ tại khu làng này. Những mái nhà tranh bị đốt còn ngun ngút khói. Ngôi trường gồm vài căn nhà gạch làm lớp học cho trẻ con bị đạn pháo kích chỉ còn trơ lại đống gạch vụn. Đây đó, những xác người không còn đầu nằm phơi mình dọc theo con đường đất, bên những vũng máu khô bu đầy ruồi nhặng. Trong ngôi miếu hoang phế, dưới gầm chiếc bàn thờ gỗ đổ nát, Xuyến run rẩy ôm con nép người sát dưới đất. Cô bé con nằm trong lòng mẹ mặt cũng tái xanh không còn hột máu. Hình ảnh kinh hoàng của thanh mã tấu từ tay bọn Miên chém xả xuống cổ những người Việt Nam tại cửa tiệm tạp hóa của mẹ cô từ mấy hôm trước, hãy còn như đang hiển hiện trong đầu cô bé. Lúc đó nếu mẹ cô bé không nhanh tay bế cô bỏ chạy, thì bây giờ không biết số phận của hai người sẽ ra sao. Không gian như lắng đọng lại. Cô bé nghe thật rõ tiếng tim của mẹ mình đang đập mạnh trong lồng ngực. Có tiếng chó sủa vu vơ từ xa vọng vào. Cô bé kêu khẽ: – Mẹ ơi! Con sợ quá! Xuyến vỗ nhẹ vai con: – Suỵt! Đừng lên tiếng, kẻo họ đi ngang đây, lỡ nghe thấy, thì chết hai mẹ con mình! Im lặng lại trở về trong ngôi miếu hoang. Xuyến cảm thấy tay chân mình tê dại, bởi nằm chịu trận khá lâu dưới cái gầm bàn thờ vừa hẹp, vừa thấp này, nhưng ngoài đây ra thì chẳng còn đâu là nơi an toàn cho hai mẹ con nàng ẩn nấp. Chợt có tiếng chân người đạp trên lá khô, dừng lại nơi khoảnh sân trước cửa miếu. Xuyến ôm chặt con, nín thở. Có tiếng quát tháo của bọn Miên xen lẫn với tiếng van xin của một người đàn ông. Từ khe hở dưới bàn thờ nhìn ra, hai mẹ con Xuyến thấy một ông cụ già người Việt bị ba tên Miên đen đúa, mặt mũi hung ác, cầm dao rựa và mã tấu trói thúc ké, đẩy té sấp xuống sân. Ông cụ ngóc đầu khản cổ van xin, rồi cố nhoài mình để đứng lên, nhưng bị bàn chân dính đầy bùn đất của một tên đạp lên đầu ông, đè xuống. Hắn giơ cao thanh mã tấu lên trời, rồi chặt mạnh xuống. Trong chỗ núp, Xuyến nhắm mắt lại rùng mình. Nàng nghe rõ tiếng xé gió của lưỡi mã tấu cùng âm thanh ằng ặc của chiếc cổ họng ngập máu bị chém chưa đứt hẳn. Thân người nàng lạnh toát, trong tiếng cười man rợ của bọn sát nhân. Bé Trang trong tay mẹ cũng run lên bần bật, mắt nó mở to kinh hoàng nhìn đôi chân của nạn nhân đang dẫy đành đạch. Xuyến vội che mắt con lại, rồi nói thầm vào tai nó: – Đừng khóc nghe con! Họ nghe thấy thì mình chết đó! Cô bé lặng người đi, khẽ gật đầu. Bên ngoài, ba tên sát nhân kéo xác ông cụ vất qua một bên, xì xầm bàn tán với nhau một lúc, và chia nhau lục soát. Xuyến ôm chặt con. Tim nàng như muốn ngừng đập. Người đàn bà lâm râm khấn vái cho bọn giết người đừng khám phá ra hai mẹ con nàng. Một lúc sau cả bọn kéo nhau ra cửa miếu. Đột nhiên một tên dừng lại, quay mặt nhìn về phía đám ván gỗ nằm ngổn ngang che dưới chân bàn thờ. Sau một giây suy nghĩ, hắn bước trở lại bàn thờ, quơ lưỡi dao dài gạt đám ván, gỗ vụn che chỗ núp của hai mẹ con Xuyến để kiểm soát. Người đàn bà ôm chặt con, run lên bần bật. Tên Miên giơ tay nắm miếng ván dài che trước mặt nàng kéo mạnh. Xuyến hoảng hốt vẹt đám gỗ vụn, ôm con chui nhanh ra khỏi gầm bàn thờ, bỏ chạy. Tên Miên giật mình, lùi nhanh lại khi thấy bóng người phóng ra cửa miếu. Hắn hô hoán lên. Hai tên đứng ngoài sân, nghe tiếng hô liền quay lại, và nhìn thấy bóng Xuyến. Thế là cả ba tên hè nhau rượt theo người đàn bà. Xuyến ôm con chạy thục mạng, nhưng chỉ thoát được một quãng thì nàng bị vấp ngã. Hai mẹ con ngã chổng kềnh trên mặt đất. Ba tên đàn ông nhào tới chụp lấy nàng. Chúng sáng mắt khi nhận ra nạn nhân là một phụ nữ trẻ. Bé Trang lồm cồm bò dậy. Thấy ba tên Miên đang giữ tay chân mẹ mình, đè ngửa trên đất, cô bé quên cả sợ hãi nhào tới. Xuyến cố ngóc đầu lên la lớn: – Trang, chạy đi con! Chạy mau đi. Không thôi chết bây giờ! Nhưng cô bé vẫn nhảy bổ lại, vừa khóc vừa nhào tới ôm cổ một tên, cắn vào hắn, nhưng cố bé đã bị đẩy mạnh ra ,và lãnh một cái bạt tai té sấp mặt xuống đất phun máu mũi. Xuyến cố vùng vẫy, nhưng nàng làm sao thoát khỏi. Tay chân nàng bị hai tên ấn chặt xuống đất, cho tên thứ ba kéo tung hàng nút bấm nơi tấm áo bà ba của nàng ra. Xuyến lả người đi. Ba cặp mắt thú vật hau háu nhìn phần ngực trần của người đàn bà. Tên thứ ba cười man rợ đưa bàn tay đen đúa chạm vào ngực Xuyến. Chợt một tràng súng liên thanh nổ chát chúa. Ba tên Miên hoảng hốt buông Xuyến đứng lên, rồi bỏ chạy, nhưng tràng đạn kế tiếp đã kết liễu đời ba con thú mặt người. Ba tên sát nhân nằm phơi thây trên mặt đất. Xuyến lồm cồm, chống tay ngồi dậy, kinh ngạc. Cách chỗ nàng chừng mười thước một người lính trong bộ chiến phục Thủy Quân Lục Chiến của QLVNCH đang đứng oai nghiêm… trên tay ôm khẩu súng nòng còn bốc khói. Gương mặt chàng xạm nắng, nơi gò má trái có một vết sẹo dài, dấu tích của trận chiến nào đó với kẻ thù. Người lính lẵng lặng bước tới gần bé Trang. Chàng ngồi thấp xuống, đỡ cô bé dậy, phủi bụi cho nó: – Cháu có đau lắm không? Cô bé đưa đôi mắt thơ ngây còn in nét kinh hoàng nhìn người lính một lúc rồi nhẹ lắc đầu. Người lính giơ tay quệt máu mũi của cô bé, rồi xoa đầu nó: – Cháu thật can đảm! Xuyến đã đứng dậy. Nàng gài lại khuy áo, bước tới bên người lính, ngập ngừng nói: – Mẹ con Xuyến, xin cảm ơn anh đã cứu sống! Người lính đứng lên: – Lúc nãy nhìn thấy chúng nó đuổi chị, tôi cứ tưởng chị là người Miên, tới chừng nghe chị hối cháu chạy, tôi mới biết chị là Việt kiều sống ở đây. Xuyến giơ tay kéo bé Trang đứng với mình, rồi nói với giọng ngậm ngùi: – Ba của cháu nhỏ đã mất cách đây một năm. Hai mẹ con em tính thu xếp cửa hàng để trở về quê ngoại cháu ở Châu Đốc, nhưng không ngờ lại xảy ra chuyện ‘Cáp duồn’. Cũng may trời xui khiến gặp được anh…. Xin lỗi tên anh là… – Tôi tên Lâm! Tiểu đoàn 4 Thủy Quân Lục Chiến! Xuyến thở nhẹ. Đứng bên người lính Việt Nam Cộng Hòa, người thiếu phụ cảm thấy an tâm. Nàng nhìn quanh, rồi hỏi: – Bạn của anh đâu, soa không thấy người lính nào hết vậy? – Trong trận đánh với Việt Cộng đêm qua để giải tỏa tỉnh lỵ Preyveng, tôi bị lạc đơn vị và bị kẹt trong lòng địch cho nên phải tự tìm lấy đường về. Rất tiếc địa thế ở đây tôi mù tịt cho nên lần mò mãi mà vẫn còn lẩn quẩn trong khu đóng quân của Việt Cộng. Chị là người ở đây chắc biết rành đường. – Anh muốn đi đâu? – Bến phà Neakluong! – Vậy là anh đi lạc quá xa rồi. Mình phải trở lại khu rừng kia, rôì cứ theo hướng mặt trời mọc chừng khoảng năm cây số nữa. Lâm quay nhìn theo hướng chỉ của Xuyến. Một cánh rừng xanh mờ hiện dưới chân trời. Lâm quay lại nàng: – Bây giờ chị và cháu tính thế nào đây? – Anh cho hai mẹ con em cùng đi theo với! Lâm nhìn Xuyến như dò hỏi. Nàng kéo bé Trang lại gần Lâm: – Chồng em mất, bọn giết người vẫn tiếp tục hoành hành. Em không thể ở lại đây được. Lâm gật đầu: – Vậy thì chị và cháu đi với tôi. Chính phủ Việt Nam đang thực hiện kế hoạch đón Việt kiều mình hồi hương. Đến bến phà Neakluong, quân đội mình sẽ giúp chị và cháu. Nét mừng rỡ hiện trên gương mặt người góa phụ. Nàng trao cho chàng nụ cười tươi cùng ánh mắt biết ơn. Ba người bắt đầu cuộc hành trình. Lâm vai mang ba lô, tay cầm súng, vừa đi chàng vừa thận trọng nhìn quanh. Đây là vùng đất chết, bóng dáng tử thần luôn lảng vảng quanh đây. Dìu dắt hai mẹ con Xuyến, Lâm lại mang thêm trách nhiệm bảo vệ mạng sống cho hai người nên tinh thần chàng căng thẳng hơn lúc đi chỉ có một mình. Nắng vẫn nóng như thiêu, như đốt. Mặt đất khô cằn, nứt nẻ. Thỉnh thoảng họ lại nhìn thấy một thây người bị chặt đầu nằm phơi bên vệ đường. Những cơn gió hầm hập thổi qua mang theo mùi tử thi sình thối. Lâm nghe lòng mình se lại. Đồng bào của chàng đó. Trước khi hành quân, chàng đã được nghe về chuyện ‘cáp duồn’ dân Việt bên Cam Bốt, nhưng lúc đó chàng chưa thể hình dung được mức độ ghê rợn, thảm khốc đến như thế này. – Mẹ ơi, con khát nước quá! – Ráng nhịn chút đi để thủng thẳng mẹ tìm nước cho mà uống. Lâm giật mình dừng lại. Thảm cảnh chết chóc đã khiến chàng phân tâm đi hơi mau, bỏ xa hại mẹ con Xuyến. Lâm bước trở lại. Xuyến bồng bé Trang trên tay. Người thiếu phụ mặt đỏ gay và trán lấm tấm mồ hôi vì nắng. Nàng đagn cố bước mau theo Lâm. Lâm chờ hai mẹ con tới gần, chàng mỉm cười: – Xin lỗi chị, tôi vô ý quá. – Dạ anh đừng lo, tôi theo kịp anh mà. Xuyến dừng lại, bỏ bé Trang xuống đất, rồi giơ tay gạt mồ hôi. Lâm gỡ cái bi đông nước đeo bên hông chàng, mở nút, đưa cho Xuyến: – Chị và cháu uống miếng nước cho đỡ khát! Xuyến cảm động đỡ lấy cái bi đông nước chỉ còn độ non một phần tư. Nàng ngần ngại nói: – Còn chút xíu nước, thôi để anh uống, lát nữa đi ngang đâu có giếng thì hai mẹ con em uống sau cũng được. Lâm khoát tay: – Đừng lo cho tôi. Chị và cháu Trang cần phải có nước để đi nốt đoạn đường xa này. Cháu nó đang khát, không thể bắt nó nhịn được. Bé Trang nhìn chiếc bi đông nước thèm thuồng. Xuyến ngần ngừ một lúc rồi đưa cho con. Bé Trang vồ lấy ngửa cổ tu ừng ực khiến Xuyến phải la khẽ: – Uống nhín nhín còn chừa cho chú Lâm nữa nghe con! Cô bé ngừng uống. Nó liếm môi, đưa mắt nhìn Lâm. Chàng mỉm cười: – Cháu cứ uống cho đã khát đi. Chú sẽ tìm nước nữa cho cháu uống. Cô bé đưa trả cái bi đông cho mẹ nó: – Mẹ cũng uống một miếng đi. Xuyến ngần ngừ nhấm một ngụm nhỏ rồi đưa trả lại bi đông nước cho Lâm. Cuộc hành trình lại tiếp tục thêm vài giờ nữa. Tình đồng hương khiến hai người thân mật hơn. Cho tới khi ba người tới được bìa rừng thì trời cũng nhá nhem tối. Cảnh vật hoang vu, ngoài túp lều tranh lụp sụp, tối tăm, nơi tạm trú của tiều phu, Lâm chẳng thấy có nhà cửa nào khác. Chàng ra hiệu cho Xuyến đứng chờ, rồi thận trọng bước vào túp lều dò xét. Bên trong, không một bóng người. Lâm đưa hai mẹ con Xuyến vào trong lều, nói với nàng: – Trong này không có giường chiếu, nhưng có ổ rơm cho cháu nó nằm đỡ qua đêm. Chàng tháo ba-lô, gác súng dựa vào vách, rồi ra cái bếp bằng ba hòn đá xanh ở góc lều, lấy ít rơm nhóm lửa lên. Xuyến cho con ngồi xuống ổ rơm. Bé Trang kêu đói bụng. Xuyến lúng túng, vỗ về con: – Bây giờ con nằm xuống ngủ một chút đi rồi thủng thẳng mẹ tìm đồ ăn cho. Lâm nghe thế, vội lục trong ba lô của chàng lấy hộp bánh lạt, khẩu phần ăn cuối cùng của chàng còn sót lại mở ra, đưa cho Xuyến: – Chị và cháu ăn đỡ mấy miếng bánh này đi! Người thiếu phụ cầm lấy hộp đồ ăn, đưa cho con, rồi nhìn chàng cảm động: – Cháu bé nó làm phiền anh nhiều quá. Lâm mỉm cười: – Chị đừng nói những lời khách sáu ấy nữa. Cháu Trang là đứa bé thật đáng thương so với những đứa trẻ đang được yên ổn ở Saigon. Chúng mình không nên để cháu quá mệt mỏi và sa sút tinh thần. Lời nói chân tình của người lính Thủy Quân Lục Chiến mới quen khiến cho Xuyến rưng rưng nước mắt. Ngọn lửa rơm chập chờn cháy như muốn tàn. Lâm rút thêm ở ổ rơm một bó nhỏ, rồi đứng lên: – Để tôi ra ngoài kiếm ít củi vụn. Lâm bỏ bó rơm mới vào bếp, rồi khom mình chui ra khỏi lều. Người thiếu phụ đưa mắt nhìn theo. Chợt nhìn thấy một tờ giấy viết thư nhầu nát nằm trên nền đất, Xuyến nhổm dậy, rời khỏi ổ rơm, cúi nhặt tờ thư lên. Chắc lúc nãy Lâm lục hộp đồ ăn nên làm rơi ra. Nét chữ ẻo lã của đàn bà trong mấy đoạn thư trên trang giấy đập vào mắt Xuyến: ‘… anh ơi, cũng vì hoàn cảnh gia đình mà em phải gạt nước mắt lên xe hoa về nhà chồng để làm tròn chữ hiếu… Em biết khi đọc được lá thư này anh sẽ giận em nhiều lắm. Anh sẽ trách em là kẻ ham giàu sang mà phản bội tình yêu. Lâm ơi, xin cứ nguyền rủa em đi khi em đã không giữ tròn lời chúng mình thề ước. Nhưng có ai hiểu cho được rằng, khi hai cánh cổng biệt thự của nhà chồng khép lại thì em chỉ còn là một cái xác vô tri. Linh hồn em đã theo gió để bay đến một chiến trường lửa đạn naò đó có dấu chân anh để chia xẻ với anh những gian nan và bất hạnh của một người lính sa trường. Sống trong nhà cao cửa rộng, ăn ngon, mặc đẹp, nhưgn em vẫn nuối tiếc những lần lên thăm anh nơi tiền đồn nắng cháy, ngồi bên anh trên những bao cát ở công sự phòng thủ để ăn chung với anh miếng cơm gạo xấy, mằn mặn vị muối mè. Đối với em, đó là những giây phút xúc động và có ý nghĩa nhất của đời mình. Có lên thăm những vùng địa đầu giới tuyến, ở trong những tiền đồn chằng chịt kẽm gai, ngồi dưới những mái tôn nóng như thiêu dưới nắng mặt trời hay lội lõm bõm trong những giao thông hào ngập bùn xình, em mới biết là đời lính cực khổ đến thế nào. Có tận mắt chứng kiến những đêm hỏa châu sáng rực trời trong tiếng nổ kinh hoàng của đạn pháo địch rót xuống căn cứ, nghe tiếng hò đánh cận chiến, hay nhìn những chuyến trực thăng chở xác quân ta bay đi, em mới hiểu được rằng, chọn đời lính là anh và các bạn mình đã chấp nhận hiểm nguy để sẵn sàng chết cho tổ quốc. Đời lính tuy nghèo, nhưng sự can trường và lòng hy sinh của họ thì vô giá! Lâm ơi, em thương và kính trọng anh. Nếu kiếp sau có làm thân con gái, em cũng vẫn xin được yêu màu áo chiến, màu aó vĩnh viễn hiện diện trong lòng dân tộc như một biểu tượng của can đảm và thân thương… Có tiếng sột soạt của cành lá từ ngoài vọng vào lều. Xuyến vội gấp lá thư, nhét lại vào ba-lô cho Lâm. Chàng chui vào lều với bó cành cây khô và mấy củ khoai mì còn dính đầy đất. Lâm mỉm cười và nói với Xuyến: – May quá, thấy mấy cây khoai mì bên hông nhà, tôi đào thử lên, củ hơi nhỏ, nhưng lùi vào bếp lửa ăn cũng tạm được. Xuyến giơ tay đỡ lấy bó củi khô để xuống đất rồi châm chúng vào bếp lửa. Lâm đập nhẹ mấy củ khoai mì xuống nền nhà cho tơi đất. rồi lấy lưỡi lê cắt thành những đoạn ngắn, chừng bảy tám khoanh. Xuyến vùi đám khoai vào đám than tro rơm đang đỏ hồng trong bếp. Hai người ngồi im lặng bên nhau nhìn ánh lửa bập bùng. Nơi ổ rơm, bé Trang đã ăn xong mấy miếng bánh lạt, cô bé ngả lưng nằm xuống. Mắt nó nặng trĩu vì quá mệt mỏi. Bếp hồng nổ lách tách. Ánh lửa bập bùng rọi đôi bóng lên vách lá. Xuyến ngồi bó gối, mắt lơ đãng nhìn lửa hồng nhảy múa. Lâm gỡ chiếc nón sắt, để xuống bên cạnh, móc ra bao thuốc lá dẹp lép trong túi áo trận. Chàng rút một điếu, châm lửa hút, rồi thở khói: – Chị ở bên Miên này lâu chưa? – Dạ, khoảng chín năm rồi. Em lấy chồng,r ồi hai đứa gom tiền bạc qua bên xứ này làm ăn. Tưởng rằng cuộc sống yên ổn, ai ngờ… Người thiếu phụ xúc động ngừng lại, đôi mắt lại rưng rưng ngấn lệ. Lâm nhìn nàng với ánh mắt cảm thông: – Chiến tranh là như thế đó. Số trời đã định như vậy thì mình đành phải chấp nhận thôi. Xuyến hãy can đảm, phấn đấu lên để nuôi con. Sự khổ đau nào của con người rồi cũng sẽ bị thời gian làm phai nhạt dần. Lời an ủi của người lính chiến trong kông khí ấm cúng khiến tâm hồn nàng cảm thấy gần gũi chàng hơn. Xuyến giơ tay áo lau mắt, nàng hỏi Lâm: – Chắc nhà anh ở Saigon? Lâm gật đầu: – Mẹ tôi có sạp bán vải ở chợ Bến Thành. – Nghe nói đường phố Saigon dạo này đẹp và vui lắm phải không anh? Lâm thở nhẹ khói thuốc cho những vòng tròn chữ ‘O’ bay uốn éo trong khoảng không: – Đối với người khác thì có lẽ là thế, nhưng còn tôi thì… hầu như tôi đã cố quên đi tên thành phố đã từng ghi nhiều kỷ niệm dấu yêu của đời mình. Đã ba năm nay, mỗi lần về phép, tôi chỉ vội vã ghé Saigon, thăm mẹ tôi một hôm, rôì lại đi ngay trở ra đơn vị. Bạn bè thấy thế rất ngạc nhiên, nhưng làm sao họ có thể hiểu được những uẩn khúc trong lòng tôi. Chàng ngừng lại, rít thêm một hơi thuốc: – Bây giờ vết thương lòng đã ấy đã lành, tôi cũng tìm được niềm an ủi cho đời mình trên bước đường hành quân. Những gói xôi, những ly trà đá, những lời thăm hỏi của đồng bào chân thành dành cho chúng tôi đã quá đủ an ủi để chúng tôi thấy đời lính còn nhiều ý nghĩa sống… Người chiến binh ngừng nói. Xuyến liếc nhìn Lâm. Gương mặt phong sương, đôi mắt cương nghị đang bập bùng ánh lửa khiến nàng chợt thấy tâm hồn mình giao động. Dĩ vãng tình yêu của một cô gái tuổi mười lăm như bừng sống lại trong hồn nàng. Ngày đó nàng cũng yêu một người con trai lối xóm, nhưng anh ta phải lên đường nhập ngũ. Cha mẹ Xuyến cũng vì không muốn cho con mình trở thành một góa phụ ngây thơ nên đã chấp nhận lời cầu hôn của một gia đình thương gia, hỏi Xuyến cho con trai họ. Ít lâu sau vào một chiều mưa buồn, Xuyến đã nhận được tin người con trai ấy đã ngã gục ngoài chiến trường trong một trận đánh khốc liệt. Anh nằm xuống mang theo tình yêu đầu đời vào lòng đất. Xuyến đã âm thầm khóc suốt mấy đêm liền. Rồi thời gian trôi nhanh, bổn phận gia đình đã khiến Xuyến lãng quên mối tình đau thương đó. Cho đến khi chồng mất, kỷ niệm yêu thương ngày xưa lại trở về ký ức nàng từng đêm với nước mắt. Bây giờ ngồi trước Lâm, một người lính cũng vương mang một chuyện tình dang dở, Xuyến có cảm tưởng như Lâm là hiện thân của người mà nàng yêu mến năm xưa. Mùi khoai mì nướng chín bốc lên, Lâm quăng mẩu thuốc tàn vào bếp, rồi dùng que cời đám khoai mì cháy ra ngoài. Chàng lấy lưỡi lê nậy lớp vỏ cháy đen của ba khúc khoai mì. Khoai chín trắng phau, bốc khói thơm ngào ngạt. Lâm đưa cho Xuyến một miếng, rồi cầm miếng khác mang đến bên ổ rơm. Bé Trang nằm im lặng. Cô bé vẫn chưa ngủ được bởi những ám ảnh kinh hoàng còn lởn vởn trong đầu nó. Thấy Lâm tới gần, cô bé mở mắt ra. Lâm mỉm cười đưa miếng khoai mì trắng phau cho nó: – Ngồi dậy ăn một miếng cho đỡ đói nghe cháu! Cô bé ngồi dậy, cầm miếng khoai, nhìn Lâm cảm động, rồi cho vào miệng nhai. Lâm xoa đầu con nhỏ: – Bé Trang giỏi lắm! Chàng tháo cái bi đông nước để bên mình nó. Xuyến cũng lại ổ rơm, ngồi bên cạnh con. Lâm cũng cầm một miếng khoai mì nướng ăn. Bốn mắt chợt chạm nhau. Xuyến mỉm cười, rồi vội nhìn tránh đi hưóong khác để che dấu niềm hạnh phúc nhỏ bé chợt nở hoa trong lòng nàng. Đêm đó Xuyến nằm bên ổ rơm với con. Lâm ngồi dựa lưng vào vách gần cửa lều, ngủ chập chờn để canh chừng động tĩnh bên ngoài. Đàn muỗi đói bay vo ve bên tai chàng. Thời gian lặng lẽ trôi. Bếp lửa tàn dần và tắt ngúm chỉ còn đám than hồng âm ỉ cháy. Nửa đêm, chợt Lâm giật mình tỉnh thức vì tiếng xe tăng di chuyển gần đó. Lâm lắng tai nghe. Vọng lại trong gió có tiếng gọi nhau xôn xao, rồi tiếng ra lệnh: – Tình hình khẩn trương lắm. Các đồng chí nhanh lên! Lâm nghe thân người mình lạnh toát. Chàng vội đội mũ sắt, khoác ba lô, dắt bi đông, và cầm súng tới bên ổ rơm lay nhẹ tay Xuyến. – Xuyến! Dậy mau! Xuyến ngồi bật dậy ngơ ngác. Lâm nói nhanh: – Việt Cộng đang chuyển quân quanh đây! Chúng mình phải rời khỏi nơi này gấp! Xuyến hoảng hốt bế con lên. Bé Trang cất giọng lè nhè. Xuyến vội bịt miệng con lại. Ba người chui ra khỏi lều. Người đàn bà cõng con bước theo Lâm. Ánh trăng vẫn vằng vặc trên đỉnh trời, tỏa ánh sáng lạnh lẽo xuống trần gian. Cảnh vật ẩn hiện lờ mờ. Lâm đi trước dẫn đường. Chàng đưa Xuyến băng rừng. Ánh trăng không đủ sức xuyên qua các tàn cây nên khu rừng trở nên tối đen như mực. Lâm vừa bước dò dẫm, vừa nắm lấy tay Xuyến để không lạc nhau. Bàn tay mềm mại của người đàn bà nắm chặt lấy tay chàng. Mấy lần Xuyến vấp rễ cây, loạng choạng ngã vào người chàng. Cứ đi như thế không biết bao lâu. Ba người đến chỗ cây cối thưa thớt. Có âm thanh của nước chảy cuồn cuộn. Rồi một lúc sau họ đến bờ một dòng thác khá rộng, cắt ngang rừng. Chàng và nàng dừng lại nhìn dòng nước đang chảy xiết lấp loáng ánh trăng. Xuyến mừng rỡ nói: – Qua dòng thác này đi thêm một cây số nữa là tới bến phà Neakluong rồi đó! – Nếu thế thì coi như chúng ta thoát hiểm rồi. Lâm đưa mắt nhìn dòng nước cuồn cuộn xô vào những tảng đá giữa dòng bắn tung lên những bọt nước trắng xóa. Xuyến hỏi: – Liệu chúng mình có thể lội qua ngay bây giờ được không anh? Lâm nhìn dòng nước đang chảy xiết trong bóng trăng lờ mờ, giọng chàng ngần ngại: – Tôi không sao, nhưng Xuyến và cháu bé thì chắc chắn là không thể qua được rồi. Tốt hơn hết là mình tạm dừng chân nơi đây để chờ sáng. Lúc ấy mình mới thấy rõ chỗ nào an toàn có thể băng qua được. Bây giờ Xuyến và cháu ngồi dưới gốc cây này nghỉ đi. Tôi xuống dưới lấy nước vào bi đông. Bé Trang vẫn ngủ gà, ngủ gật trên lưng mẹ. Xuyến đặt con nằm trên đám lá khô dưới một gốc cây. Lâm tháo bi đông bên hông bước lần mò xuống bờ thác. Chàng múc đầy bi đông nước đeo vào người, rồi đứng bất động thật lâu nhìn cảnh vật. Dưới ánh trăng vàng, dòng thác bạc lấp lánh nên thơ quá. Nó đẹp tuyệt vời như khung cảnh thần tiên của dòng thác Cam Ly hòa lẫn tiếng gió vi vu trên đồi thông Đà Lạt ngày đó của hai người. Kỷ niệm yêu dấu chưa nhạt nhòa trong tim chàng mà sao tình yêu đã chấp cánh bay cao. Người chiến binh nghe tâm tư mình nặng trĩu. Nỗi cô đơn trống vắng chợt kéo đến xâm chiến hồn anh. – Anh Lâm! Anh Lâm! Anh ở đâu vậy? Tiếng gọi của Xuyến từ trên dốc cao kéo Lâm trở về thực tại. Người chiến binh lặng lẽ quay gót bước lên triền dốc. Xuyến đi xuống. Mặt nàng chợt vui mừng khi nhìn thấy Lâm: – Anh xuống dưới lâu quá làm em hết cả hồn. Tưởng anh… Lâm gỡ bi đông nước đưa cho nàng, mỉm cười: – Xuyến tưởng là tôi té xuống thác rồi có phải không? Lính Thủy Quân Lục Chiến mà, đâu có dễ gì tệ như vậy. Xuyến uống mấy ngụm nước, rồi trả bi đông lại cho Lâm. Nàng quay nhìn gốc cây chỗ con ngủ thăm chừng, rồi gnồi xuống một phiến đá. Xuyến ra dấu cho chàng ngồi xuống bên cạnh nàng. Cử chỉ thân mật, tự nhiên của người đàn bà khiến Lâm nghe lòng mình chợt vui. – Anh Lâm. Cho phép Xuyến hỏi cái này có được không? Giọng nói trịnh trọng của nàng khiến Lâm hơi ngạc nhiên: – Xuyến muốn hỏi gì, cứ việc tự nhiên. Người thiếu phụ ngập ngừng nhìn chàng, hỏi một câu thăm dò: – Mai mốt mỗi người một nơi, em muốn biết địa chỉ của anh để đến thăm. Có được không? Gương mặt ngưòoi lính trẻ chợt đăm chiêu: – Đời lính tác chiến độc thân như tôi nay đây mai đó làm gì có nhà cửa, địa chỉ. Tôi sẽ đưa Xuyến khu bưu chính của tôi để thỉnh thoảng chúng mình viết thư hỏi thăm nhau. – Vậy thì anh cho em số KBC, luôn tiện chỉ sạp bán hàng của mẹ anh. – Xuyến cứ vào cửa Đông chợ Bến Thành, hỏi sạp vải của bà Tư Trầu thì người ta sẽ chỉ cho. Xuyến ngập ngừng: – – Chỉ sợ lúc em tới thăm thì.. anh không còn được tự do tiếp khách nữa. – Tại sao lại không được tự do? – Bởi vì… vì biết đâu anh đã có một cô nào khác… Nàng thẹn thùng ngừng nói. Lâm phì cười: – Nếu biết chắc chắn là Xuyến sẽ tới thăm thì sẽ chẳng bao giờ xảy ra chuyện đó. Nói thật cho Xuyến nghe chuyện tình yêu cũa những người lính chiến đấu đều rất mong manh như sương khói. Có đấy rồi lại mất đấy… Tìm một tình yêu tha thiết, lâu bền thì rất khó… Lâm ngừng nói, rồi khẽ thở dài. Xuyến cảm thông nỗi buồn của chàng, nàng nói nhỏ: – Anh là người tốt, anh sẽ gặp may. Xuyến cầu trời ban cho tình cảm của anh gặp xuông xẻ. – Cảm ơn Xuyến đã nghĩ đến tôi. Mai mốt đây trên bước đường hành quân, ít ra tôi cũng đã có được Xuyến, một người bạn gái để thư từ, tâm sự, âu cũng là nguồn an ủi. Nhớ đừng quên lời hứa biên thư đó nghe. Giọng nàng vui vẻ: – Nhớ chứ. Khi về tới Châu Đốc là em viết cho anh liền! Tiếng thác reo vui như hòa nhịp với tình cảm đang dâng tràn trong lòng người góa phụ. Hai ngườ lại im lặng, nhìn bâng quơ xuống dòng nước. Xuyến thở nhẹ. Phải chăng vì nhờ Lâm mà hai mẹ con nàng được cứu sống cho nên hình ảnh oai hùng của chàng đã xâm chiếm trái tim nàng. Chồng mới nằm xuống có một năm mà nàng lại để cho lòng mình quá nhậy cảm như thế có phải là một lỗi lầm hay không. Hôm sau khi Xuyến và con thức dậy thì trời đã sáng rõ. Lâm đang ngồi bên đống lửa nhỏ nướng con cá to mà chàng mới đâm được ở dưới dòng thác. Xuyến dẫn con đến ngồi bên đống lửa. Mùi cá nướng chín thơm phức xông lên ngào ngạt khiến nàng cảm thấy bụng đói cồn cào. Lâm gỡ cái lườn cá nạc đưa cho bé Trang: – Ráng ăn hết miếng cá lớn này để có sức để băng rừng nghe cháu. Rồi chàng gỡ miếng khác đưa cho Xuyến: – Cá nướng không có gia vị lạt nhách. Xuyến chịu khó ăn một miếng cho vui. Lát sau, ba người cùng ăn ngon lành hết con cá to. Có chút thực phẩm vào người, chân tay hai mẹ con không còn bủn rủn nữa. Cuộc hành trình lại bắt đầu. Lâm dẫn hai mẹ con xuống chỗ bờ nước mà chàng đã thăm dò lúc sớm. Xuyến nhìn dòng nước chảy xiết với ánh mắt ngần ngại. Lâm hiểu ý quay sang trấn an nàng: – Chỗ này tôi đã xuống thử rồi. Nước chỉ đến ngang bụng, chảy không mạnh lắm. Chúng mình có thể lội qua dễ dàng. Xuyến còn lưỡng lự chưa biết làm sao để ôm con đi qua thì Lâm đã tháo chiếc ba lô trên lưng ném mạnh xuống nước cho chìm, và nói với nàng: – Tôi sẽ cõng bé Trang đi trước. Xuyến bám theo rồi cùng đi. Ráng chịu lạnh một chút nghe! Xuyến gật đầu. Nàng bế con ldên cho nó đeo vào lưng Lâm. Chàng một tay cầm súng, một tay dìu Xuyến bước xuống nước. Người thiếu phụ chợ trùng mình khi hai đùi nàng chạmm dòng nước lạnh. Càng bước, thân người nàng càng chìm sâu xuống. Sức nước chảy khiến hai người loạng choạng. Bám trên lưng Lâm, nhìn dòng nước đang cuồn cuộn. Bé Trang cũng run rẩy khi bụng của nó chìm xuống nước. Hai hàm răng con bé đánh lập cập: – Chú Lâm ơi, cháu sợ quá! Lâm vỗ nhẹ đôi bàn tay nhỏ bé đang bám chặt lấy vai chàng: – Trang đừng sợ, chú sẽ cõng bé Trang sang bên bờ kia an toàn mà. Nào, Trang phải can đảm lên cùng hát to với chú để không còn run nữa! Một.. hai.. ba… Ngày, bao hùng binh tiến lên! Bờ cõi, vang lừng câu quyết chiến… Đi phía sau, nhìn Lâm cõng con mình và nói nhũng lời khích lệ tinh thần nó, nước mắt Xuyến chợt ứa ra. Tự nhiên nàng ao ước cho chiến tranh chóng tàn để những người chiến binh như Lâm được trở về xum họp với cha mẹ, với người thân trong mái ấm gia đình. Nửa giờ trôi qua Lâm đã dưa hai mẹ con Xuyến vượt qua hai phần ba đoạn thác. Nước ở khúc này có vẻ chảy mạnh hơn làm Lâm phải chống họng súng xuống mới đứng vững được. Xuyến phải bám chặt lấy lưng áo của con để gượng lại sức nước. Không gian đang bình yên, chợt một tràng súng AK nổ dòn phía sau lưng họ, vang dội cả núi rừng. Hai người giật mình quay đầu nhìn lại. Xuyến bỗng rụng rời chân tay khi thấy bờ lúc nãy lố nhố những chiếc nón cối của Việt Cộng. Chúng vừa bắn vừa hò hét: – Tên lính thủy đánh bộ và chị kia, quay trở lại đây nhanh lên! Tiếp theo là những tràng đạn bắn veo véo xuống nước để cảnh cáo. Bé Trang sợ hãi khóc thét lên. Xuyến cũng run lẩy bẩy, mặt tái mét: – Bây giờ mình làm sao đây hả anh Lâm? Lâm trao bé Tragn cho Xuyến. Chàng nói nhanh: – Xuyến cứ cõng cháu tiếp tục lội qua. Tôi sẽ đi trở lại để câu giờ cho hai mẹ con chạy thoát. Xuyến hoảng hốt: – Đừng, anh mà trở lại thì bọn chúng sẽ giết anh đấy! Lâm nhìn Xuyến, giọng chàng thật bình tĩnh: – Chúng mình chẳng còn cách chọn lựa nào khác cả. Bờ không còn bao xa. Xuyến ráng cõng cháu mà vượt qua nghe! Xuyến mếu máo nhìn Lâm nghẹn ngào nói không nên lời. Tiếng đạn AK bắn veo véo xuống nước như thúc giục. Xuyến thu hết sức mạnh cõng con bước thật nhanh. Tình mẫu tử đã chống lại được dòng nước cuốn. Lâm quay người, loạng choạng bước trở lại giữa dòng, khẩu súng của anh vẫn được nhận chìm dưới mặt nước. Anh nhìn rõ bên kia bờ bốn tên Việt Cộng đang hờm súng núp lấp ló sau những thân cây. Lâm quay lại phía bờ bên này. Xuyến đã cõng con lên khỏi mặt nước, và lủi nhanh vào rừng cây trong tiếng đạn AK bắn vu vơ với theo. – Tên lính thủy đánh bộ kia, giơ hai tay khỏi đầu, và bước nhanh lên! Lâm ngửa mặt, hít một hơi dài. Máu Thủy Quân Lục Chiến chợt nóng bừng trong huyết quản anh. Nhanh như cắt, họng súng XM16 vụt bay lên khỏi mặt nước, chĩa vào địch quân nổ dòn tan. ‘Tạch! Tạch! Tạch! Tạch! Tạch’ Hai tên Việt Cộng ngã nhào ngay tại chỗ. Hai khẩu AK còn lại đồng thanh nhắm hướng Lâm khạc đạn. Âm thanh vút xoáy của những tràng đạn AK bay veo véo ngang tai Lâm chạm nước bắn tung toé chung quanh chàng. Người lính Thủy Quân Lục Chiến vẫn hiên ngang ôm súng đứng giữa dòng nước trống trải bắn trả lại kẻ thù. Một tên địch xông xuống bờ nước bị trúng đạn của Lâm, ngã bật ngửa. Tên còn lại ria súng bắn Lâm. ‘Tạch! Tạch! Tạch! Tạch! Tạch! Tạch’ Tiếng đạn AK xé gió bay về phía Lâm. Đột nhiên bụng Lam nhói lên, đau khủng khiếp, nhưnga vanh vẫn còn đứng vững để hạ nốt tên Việt Cộng cuối cùng. Chiến trường im lắng. Lâm buông rơi khẩu súng, hai tay ôm bụng. Có cái gì mềm mềm cồm cộm nằm trong lớp áo rằn ri mà Lâm đoán là ruột của mình. Người chiến binh mệt mỏi cúi nhìn xuống dòng nước pha đẫm máu hồng đang cuồn cuộn chảy. Mắt anh mờ đi. – Anh Lâm! Anh Lâm! Tiếng gọi của Xuyến khiến Lâm quay đầu lại, ngạc nhiên khi thấy Xuyến vẫn còn ở lại để chờ chàng. Trong màn sáng nhạt nhòa của đôi mắt người lính Thủy Quân Lục Chiến, Xuyến đang vội vã bước xuống bờ nước, lội đến phía anh. Lâm ôm bụng lảo đảo xoay người lại, cố bước loạng choạng về phía nàng. Đôi chân run rẩy, thân người lạnh giá, Lâm cố thở mạnh, nhưng hai buồng phổi của anh dường như không còn dưỡng khí. – Anh Lâm! Cố đứng vững để đợi em tới, dìu anh lên! Ráng chịu đựng nghe anh! Tiếng gọi thiết tha pha lẫn dòng nước mắt nghẹn ngào của người góa phụ trẻ khiến trái tim đơn côi của Lâm chợt nghe ấm lại. Người lính Thủy Quân Lục Chiến cố mở to mắt lần cuối cùng để ghi nhận hình ảnh một hạnh phúc nhỏ bé, thiết tha và chợt đến với anh như một phép nhiệm mầu, nhưng lại quá ngắn ngủi, muộn màng. Bầu trời trước mặt Lâm bỗng tối sầm lại. Thân hình người chiến sĩ mũ xanh lảo đảo, rồi đổ xuống, buông xuôi theo dòng thác lũ vô tình…