Cuộc Chiến Quốc Cộng quá gian khổ: Làm sao Phe Tưởng Giới Thạch trụ vững ở đảo quốc Đài Loan đến ngày nay?
*Tưởng Giới Thạch rút về Đài Loan từ năm 1948.
Năm 1948, Trung Quốc sơn hà chia đôi, trời đất đổi màu. Chính phủ
Quốc Dân Đảng đang đứng trước nguy cơ tan rã, Tưởng Giới Thạch vò
đầu bứt tóc giữa những khó khăn.
Trần Bố Lôi, tham mưu của Tưởng Giới Thạch khuyên ông rằng: “Chúng ta nên bãi binh, ngừng chiến và tổ
chức đàm phán với Đảng Cộng sản, sớm chấm dứt cuộc nội chiến. Như
vậy Quốc Dân Đảng có lẽ còn có thể ngồi vững trên phân nửa giang sơn
còn lại”.
Tưởng Giới Thạch trả lời: “Hiện nay tình hình chiến sự quả thực rất bất
lợi, nhưng ông không cần phải bi quan như vậy. Dẫu đàm phán cũng
không thể giữ được một nửa giang sơn vàng ngọc. Chúng ta chỉ có thể
bài binh bố trận, thành hay bại là bởi ý Trời”. Một mặt Tưởng Giới
Thạch bài binh bố trận dọc theo dòng sông Trường Giang, quyết một
phen sống mái với Đảng cộng sản. Mặt khác ông gấp rút hoạch định con
đường thoái lui cho Quốc Dân Đảng.
Lúc này, một vị cao nhân thần bí đã xuất hiện và chỉ cho Tưởng Giới
Thạch một con đường: “Rút lui về phía Nam, lui binh và trấn thủ hòn
đảo hoang Đài Loan”.
Đầu năm 1949, sau 3 đại chiến dịch Lưu Thẩm, Bình Tân, Hoài Hải,
quân sĩ có khả năng chiến đấu trong quân đội của Quốc dân Đảng đã bị
tiêu diệt quá phân nửa. Sự thống trị của Quốc dân Đảng tại Đại lục cũng
phải đối mặt với việc bị lật đổ triệt để. Quốc dân Đảng sẽ đi đâu về đâu?
.“Thượng thượng sách là rút về trấn thủ Đài Loan!” .
Địa thế đắc địa của Đài Loan…
“Dùng địa thế hiểm trở của Trường Giang để chia đôi thiên hạ, ấy chỉ
là chủ trương theo nguyện vọng của Quốc dân Đảng. Đảng Cộng sản
thế đang như chẻ tre, tuyệt đối sẽ không cam tâm với điều này. Ngài
muốn lui về trấn thủ Tây Nam, Hải Nam cũng chỉ là lối nghĩ không thực
tế. Duy chỉ có Đài Loan mới có thể trở thành nơi phù trợ cuối cùng cho
Quốc dân Đảng.
Đài Loan là mảnh đất quý có phong thủy tốt, ngăn cách với đại lục bởi
một eo biển. Dựa vào địa thế hiểm trở tự nhiên của eo biển, thoái lui thì
có thể trấn thủy, tiến lên thì có thể phản công. Dựa vào lực lượng hải
quân và không quân của Quốc dân Đảng hoàn toàn có thể chống lại
Đảng Cộng sản lúc này đang không có hải quân và không quân. Tối
thiểu thì cũng có thể tranh thủ được thời gian hòa hoãn, tích lũy lực
lượng, đợi tình hình quốc tế có những biến đổi thuận lợi cho mình, rồi
mới tiếp tục “phản công Đại lục”.
Bản đồ Đài Loan (nguồn: Wikipedia)
“Quốc dân Đảng hiện nay chỉ có 3 nơi có thể rút lui và trấn thủ là Tây
Nam, Hải Nam và Đài Loan. Trong 3 vùng này thì đất Thục là phía Tây
Nam của khu trung tâm, về mặt địa lý quân sự thì dễ trấn thủ mà khó
tiến công. Phía Bắc có Thái Lĩnh. Phía Đông có Tam Hiệp, Trường
Giang. Phía Nam có dãy núi Hoành Đoạn, địa thế hung hiểm, chướng
ngại rất nhiều. Đây lại là mảnh đất lành kháng chiến, tự bản thân nó đã
là một nơi tốt để dừng chân”.
“Sau khi Quảng Châu thất thủ, chính quyền đương thời sẽ di dời toàn
bộ cơ cấu trung khu tới Trùng Khánh và Thành Đô. Nhưng điểm thiếu
sót lớn nhất của mảnh đất này là có liên hệ mật thiết với nội địa. Nó
không có địa thế nguy hiểm và chướng ngại tự nhiên không thể vượt
qua, nên khó có thể khiến lòng người yên tâm. Ngoài ra, sự không quyết
đoán trong vũ trang của vùng đất này cũng không thể khiến lòng người
an định. Đảo Hải Nam cũng tồn tại tình huống tương tự như vậy. Mặc
dù có eo biển Quỳnh Châu, nhưng so với eo biển Đài Loan thì eo biển
Quỳnh Châu khó có thể tiến hành vũ trang gây trở ngại với Đảng cộng
sản đang ngày càng hùng hậu”.
Đài Loan là nơi bảo vệ cuối cùng cho Quốc Dân Đảng.
Tưởng Giới Thạch không cam tâm…
Trước đó, Tưởng Giới Thạch vẫn lúng túng không biết nên làm thế nào.
Trong thâm tâm ông vẫn luôn không cam tâm rời khỏi Đại lục. Bởi vì
rời xa Đại lục cũng đồng nghĩa với việc Tưởng Giới Thạch đã thất bại
triệt để trước Đảng Cộng sản. Ông sẽ phải dâng giang sơn tươi đẹp này
cho đối phương, nên dẫu thế nào ông cũng không đành lòng.
Đa số các tướng tham mưu dưới trướng ông cũng chỉ dựa vào kinh
nghiệm theo thói quen mà chủ trương thoái lui về phía Đại Tây Bắc
(gồm 5 tỉnh thành) hoặc Đại Tây Nam (gồm 6 đại khu hành chính). Điều
này căn cứ theo kinh nghiệm trong thời kỳ kháng chiến chống Nhật. Khi
thủ đô Nam Kinh bị quân Nhật tấn công, Quốc dân Đảng đã tới Trùng
Khánh, khu Tây Nam làm căn cứ địa kháng chiến chống Nhật. Cuối
cùng Quốc dân Đảng đã đánh đuổi được quân Nhật và giành được thắng
lợi.
Ngày nay, họ cũng muốn tận dụng ưu thế địa lý hiểm trở phía Tây cao,
phía Đông thấp làm ưu thế cố thủ. Từ đây họ cũng có thể đột kích ngầm
Trung Nguyên. Điểm này cũng được Tưởng Giới Thạch rất mực tán
đồng. Cho nên ông vẫn luôn là người ủng hộ cho việc rút về Xuyên
Khương ở phía Tây, tức “Thuyết lui về phía Tây”. Nhưng “Thuyết lui về
phía Đông” khác biệt của Trương Kỳ Quân đã khiến Tưởng Giới Thạch
xúc động sâu sắc.
Những ưu thế không thể sánh được của mảnh đất Đài Loan…
Rút quân về phía Đông, tức Đài Loan.
Eo biển Đài Loan biển rộng sóng cao. Nó có thể tạm thời ngăn trở quân
của Đảng Cộng sản thừa thắng xông lên. Tiếp đó, Đài Loan là “căn cứ
địa phục hưng, phản công cứu quốc”, có ưu thế mà những khu vực khác
không thể sánh được.
Đài Loan nằm ở khu vực Đông Nam của Trung Quốc, tại đường hồi quy
phía Bắc xuyên qua đảo Đài Loan. Khí hậu nhiệt đới và cận nhiệt nơi
đây thích hợp với sự sinh trưởng của động thực vật. Nơi đây lại có sản
vật phong phú. Khả năng tận dụng đất đai trên toàn bộ hòn đảo khá cao.
Thực vật rậm rạp, nông sản, lương thực về cơ bản đều có thể đáp ứng
nhu cầu của quân và dân.
Giao thông Đài Loan khá thuận tiện. Nền công nghiệp lại có cơ sở được
lưu lại từ thời quân Nhật chiếm cứ. Nếu giỏi kinh doanh thì kinh tế sẽ
phát triển mạnh như vũ bão.
Về mặt quân sự, đảo Đài Loan ngăn cách với Đại lục bởi eo biển, rất dễ
phòng thủ. Hơn nữa Đài Loan nằm cạnh Thái Bình Dương, có thể khống
chế đường biển ở Thái Bình Dương. Hòn đảo này còn có thể liên kết với
đường phòng thủ Viễn Đông của Mỹ. Đây là một vị trí chiến lược vô
cùng quan trọng. Mỹ ắt hẳn sẽ không thể nào không để mắt, bận tâm.
Nếu được Mỹ viện trợ thì phòng thủ của Đài Loan sẽ như hổ thêm cánh
vậy.
Cư dân Đài Loan sống đã cả nửa thế kỷ dưới sự thống trị, xâm lược của
quân Nhật. Nếu Quốc dân Đảng rút quân về đây thì người dân sẽ có cảm
giác như được sà vào lòng tổ quốc, có cảm giác như trở về nhà. Tưởng
Giới Thạch có thể tận dụng tâm lý này để ổn định lại trật tự xã hội.
Đảo Đài Loan trường kỳ ngăn cách với Đại lục. Tổ chức và người của
Đảng Cộng sản hoạt động khá ít, không thể trà trộn vào được, lại trải
qua cuộc chỉnh đốn trong sự kiện “28/2” năm 1947 nên can nhiễu lại
càng ít hơn.
Tương lai sau này dù cho xã hội có chút biến động thì chính phủ cũng dễ
dàng khắc chế những nhân tố bất ổn nhằm ổn định xã hội. Bởi lẽ đảo
Đài Loan có trạng thái phong bế, tứ phía đều trông ra biển. Hệ thống
đường sắt, đường bộ vô cùng thuận tiện. Khu vực nông thôn cũng đã
phát triển.
Tưởng Giới Thạch rút về Đài Loan, đặt định lại cơ sở kinh tế, bảo
tồn văn hóa truyền thống
Quả nhiên sau này quân Đảng cộng sản công kích ngày càng mạnh mẽ.
Tưởng Giới Thạch và chính quyền Quốc dân Đảng đã áp dụng đề xuất
của Trương Kỳ Quân, vượt biển chuyển về Đài Loan. Đồng thời Tưởng
Giới Thạch ra lệnh di chuyển 774 thùng vàng tồn kho trong quốc khố
ngầm của ngân hàng Trung ương và ngân hàng Trung Quốc. Số vàng
này được đưa tới hải quan tại cửa khẩu sông Hoàng Phố tại thị trấn Bạc
Vu và vận chuyển lén qua tàu tuần tra mang số hiệu “Hải Tinh”.
Ngay trong tháng đó, tàu “Hải Tinh” và tàu “Mỹ Thịnh”, “Mỹ Bằng”
của hải quân lại vận chuyển thêm gần 600.000 lạng vàng và 1 nghìn
thùng đồng tiền bằng bạc (mỗi thùng khoảng 400 đồng) đã cập cảng Đài
Loan trước. Điều này đã gây dựng nền tảng kinh tế vững mạnh cho
Quốc dân Đảng tại Đài Loan.
Ngoài ra vì muốn lưu lại cái nôi văn hóa truyền thống giúp nhân tâm
hướng thiện, biết kính sợ Thần linh, Tưởng Giới Thạch còn âm thầm vận
chuyển rất nhiều cổ vật và những bức tranh quý được lưu truyền qua các
thời đại sang Đài Loan. Ngày nay chúng ta có thể thưởng lãm những bảo
vật đó trong viện bảo tàng Cố Cung lộng lẫy. Tưởng Giới Thạch cũng là
người có công gìn giữ chữ Hán chính thể, cội nguồn văn hóa lâu đời của
dân tộc Trung Hoa trên mảnh đất này.
Trong khi đó, sau khi lên cầm quyền ở Đại lục, Đảng cộng sản đã ráo
riết cải tổ chữ truyền thống thành thể chữ Hán giản thể và tiến hành cải
tổ tư tưởng triệt để thông qua Đại cách mạng văn hóa. Điều này đã dần
dần chặt đứt mối liên hệ của con dân Trung Hoa với sử sách, với văn
hóa truyền thống và những lời truyền dạy của tổ tiên xuất phát từ nguồn
gốc văn hóa của chính mình.
Ngày nay chúng ta có thể thấy một Đài Loan giàu có, trù phú mà vẫn
thấm nhuần nét văn hóa truyền thống của dân tộc. Người dân nơi đây có
thể được tự do theo đuổi tín ngưỡng của mình và phát triển tiềm năng
của bản thân.

