Cây bút Cao Niên HOÀNG MINH NGUYỆT.

. Tên họ: Cao Minh Nguyệt hay Minh Boyle, bút hiệu Hoàng Minh Nguyệt. Sinh năm 1933 tại Bến Tre, VN.
. Quê nội Bến Tre, quê ngoại Vĩnh Long.
. Học vấn: Hoàn tất trung học ở Việt Nam Học Đường, Sài Gòn; 3ème, seconde , première, philo ở trường đạo Sainte Marie de Neuilly, ngoại ô Paris. Năm PCB và một phần première année medecine ở Faculté de Médecine de Paris. Chuyển sang dược và ra trường khóa 1963. Tốt nghiệp đại học về English & Litterature ở đại học George Town. Tốt nghiệp Master Gardender ở đại học Colorado.
. Sang Mỹ rồi lập gia đình năm 1968.
. Thể thao và sở thích: Đánh golf, trượt tuyết, du lịch, học đàn guitar, nghe nhạc, trao đổi thư từ với bạn bè qua emails, thỉnh thoảng viết tùy bút và làm thơ.
. Có thơ và truyện ngắn đăng trên Văn Nghệ Tiền Phong Sài Gòn, Đất Việt ở Denver, báo Đẹp ở Texas, Y Học Thường Thức, báo Trẻ ở Virginia- Maryland- DC, và nhiều bài đăng trên báo Âu Du ở Montpellier, France.
. Cộng tác với diễn đàn vanchuongpn.
Ngàn Năm Anh Vẫn Nhớ.
“Trăm năm yến tiệc linh đình
Ngàn năm anh vẫn nhớ mình mình ơi!”
(Tác giả: vô danh)
Dì ơi, với trang giấy vô tri, ngữ vựng nghèo nàn, lối hành văn thô thiển, làm sao con có thể kể hết mà không làm sai lạc cái đẹp thanh cao chuyện đời dì và tình yêu bất tử của dượng dì mà con yêu kính muôn vàn? Nhưng con phải viết. Con cần thố lộ lòng nhớ thương triền miên của con đối với dì dượng, ấp ủ đã lâu, từ ngày dì dượng theo nhau vĩnh biệt cõi đời. Không viết được như có cái gì đau nhói, gặm nhấm tim con. Đối với con, dì dượng là cha mẹ thứ hai mà thượng đế đã thương tình ban tặng cho con.
Tháng năm lần lượt đi qua, Xuân tàn Đông đến bao nhiêu bận, trong khi tôi vẫn nằm mơ thấy dì dượng, vẫn còn cố bám víu, kéo níu lại hai bóng hình đã lùi xa nơi vô tận.
Ngày xưa tôi đã theo xe hoa đưa dì về nhả chồng. Dì hạnh phúc nhưng không hớn hở giữa ba trăm quan khách và lễ lộc trang nghiêm. Vì ngày đó dì bỏ lại sau lưng tuổi thơ con gái, xa mẹ goá và chín người chị thân yêu để về sống với một gia đình mới, cảnh lạ đường xa:
“Thiếp thương phận thiếp còn thơ
Lấy chồng xa xứ bơ vơ một mình” ̣(ca dao)
Quyển tiểu thuyết bằng ngoại ngữ đầu tiên tôi đọc là Wurthering Heights của nữ văn hào Emily Bronte, dịch ra tiếng Pháp, là của dì cho tôi. Chuyện phim đầu tiên mà cả hai dì cháu tôi cùng thích là Gone With The Wind. Hai chiếc áo dài đầu tiên tôi mặc lủc mới lớn lên cũng là quà của dì tặng tôi và dẫn đi chọn hàng. Tôi còn nhớ đã chọn hàng the màu tím hoa cà và màu vàng hoa mai. Tình yêu đầu của tôi, tôi không tiết lộ cho dì mà dì biết và đã khơi ra để hàn huyên với tôi như một người bạn.
Lúc Sài Gòn tao loạn giữa đệ nhị thế chiến, cả gia đình bên ngoại chạy về quê, lúc sống dưới thuyền, khi lên bộ. Đại gia đình phân phát cho tôi đi theo dì dượng và gia đình bác sĩ Bửu, em rể của dượng. Tôi còn nhớ rõ mồn một những ngày rày đây mai đó với dì dượng. Đời sống di tản, tuy ở nhà nền đất nhưng cũng có hai phu chèo thuyền, vú em và chị bếp. Tuy nhiên mỗi người trong gia đình ai cũng làm công kia việc nọ và đối đãi người làm rất ưu ái, thân tình. Nhà có phòng nhỏ ở mặt tiền dành làm phòng mạch miễn phí cho những người hàng xóm xa gần. Mỗi khi giặt giũ thì người giúp việc phải nấu quần áo trong một nồi cao, to kình càng suốt một tiếng đồng hồ. Rau ăn sống vẫn phải rửa bằng nước tím như hồi còn ở Sài Gòn. Có lần tôi bị ghẻ lở ở mông, chính dì đã rửa nước tím mỗi ngày và thoa thuốc cho tôi. Thuở ấy em Nga, con dì, hay đau ốm, khó ăn nên chị vú thường cho em ăn khoai tán. Đời sống giặc giã mà cũng nhiều kỷ niệm thương yêu khó quên.
Sau khi trở lại Sài Gòn một thời gian, dượng giao phòng mạch cho một bác sĩ bạn rồi cùng dì và mấy con sang Pháp. Dượng mua một căn nhà nhỏ, ngay metro Maubert Mutualité, quận 5, Paris, để ở và gửi các con đi học nội trú ở các trường đạo ngoài ngoại ô Paris. Ba má tôi cũng gửi tôi sang Pháp học để có dượng dì trông nom, dìu dắt và đưa đón tôi ra ngoài chơi mỗi cuối tuần và ngày lễ. Hai em tôi, Nguyệt Ánh và Nguyệt Chiêu cũng được ba má tôi gửi sang Pháp học sau đó, nhưng khi ấy dượng dì đã trở về nước rồi. Với dì dượng tôi đã được ngao du thắng cảnh gần như toàn lảnh thổ nước Pháp, Bắc, Trung, Nam: Sceaux, Lyon, Tours, Chateaux de La Loire, các vườn nho, các nơi làm rượu, Bordeaux, Marseille, Montpellier, Cannes, Nice, Provence, …
Mỗi ba tháng hè dì dượng thuê một biệt thự trên một đỉnh đồi thơ mộng ở Nice cho gia đình dì dượng, các em và tôi. Ba má tôi có lo chỗ ăn ở cho tôi tại Paris những tháng nghỉ hè, nhưng dì dượng nhất quyết bắt tôi đi theo cho dì dượng đỡ lo. Tôi còn nhớ một chuyện buồn cười nhất là một hôm gia đình ghé vào một quán ăn nơi một tỉnh rất nhỏ, thưa người. Bỗng bà chủ quán hớt hải chạy vào phòng ăn hỏi to “Trong mấy người có ai là bác sĩ không? Xin giúp dùm chồng tôi đang bệnh trở chứng”. Dượng tôi đưa tay lên và được mời lên gác chẩn bệnh cho ông chủ quán. Xong xuôi dượng trở lại bàn mình và hỏi bà chủ đã cho chồng bà ăn những gì và ông có ngủ được không. Bà chủ quán ngây thơ trả lời “Tôi ngủ với chó tôi chứ đâu có ngủ với ổng mà biết”. Cả quán phá lên cười. Chuyện vui quá làm chúng tôi quên mất bửa ăn đó ngon hay dở. Tuy ở Nice, dượng dì tôi vẫn chọn bãi biển Juan Les Pins để đi bơi hằng ngày, vì chỗ nầy ít gió, sóng hiền và bờ biển toàn cát mịn chứ không đá to lổm chổm như ở Nice. Hơn nữa địa điểm Nice gần Monaco nên dượng Út thường chở cả nhà sang bên ấy chơi. Ôi, những ngày tháng nầy làm sao tôi quên được? Có dượng dì, tôi không phải cô đơn, có nhà, có tình thương và được chăm lo săn sóc đủ mọi điều. Dượng dì ơi. Sao nỡ vội ra đi?
Khoảng hơn bốn chục năm sau tôi ghé thăm Nice với chồng con tôi. Tôi nhờ ông xã lái xe chạy vòng lên các dãy đồi ở Nice để tìm lại dấu tích yêu mến xưa, nhưng than ơi “Tìm đâu cho thấy một ngày xưa?”. Cảnh vật đã thay đổi nhiều và người thương thì nay đâu còn nữa. Chiều hôm ấy chồng tôi lái xe đưa tôi ra bãi biển cho tôi sống lại những chuỗi ngày vui xa lăng lắc ấy. Tôi ngồi viết bài thơ sau nầy mà nước mắt chan hòa khiến chồng và các con tôi cũng mủi lòng ướt mắt theo luôn.
Bốn Mươi Năm Lẻ
Bốn mươi năm lẻ qua rồi
Hôm nay đến Nice tôi ngồi ngó quanh
Nhớ Nga rỡn nắng vàng hanh
Nhớ dì dượng Út xuân xanh mặn nồng
Sóng lô nhô bãi chiều hồng
Cảnh xưa người khuất cho lòng hắt hiu
Các cô con gái diễm kiều
Cùng đoàn trai trẻ dập dìu sánh đôi
Nice của người, mộng của tôi
Vời trông bóng dáng xưa trôi hiện về
Bốn mươi năm lẻ qua rồi
Hôm nay đến Nice tôi ngồi khóc thương.
Thương gửi em Nga và kính tặng hương hồn dì dượng Út.
(Hoàng Minh Nguyệt)
Trở về một dĩ vãng xa hơn nữa của đời dì tôi. Tôi nghe má tôi kể lại rằng lúc bà ngoại sinh dì ra, ông bác sĩ bế đứa hài nhi đỏ hỏn đến ra mắt cha nó. Ông chúc mừng ông ngoại tôi vừa được thêm một gái mạnh khỏe xinh xắn. Ông ngoại tôi chỉ nhìn con với nửa mắt rồi không vào phòng thăm vợ mà quày quả ra về ngay. Ông vừa nhận lãnh một thất vọng lớn lao nhất đời ông. Vì ông bà ngoại tôi đã có chín người con gái. Ông ráng thêm lần chót để mong có được một nam tử nối giòng. Ngờ đâu lại thêm một tiểu thư, dù mũm mĩm dễ thương đến đâu cũng vẫn là con gái “nữ sinh ngoại tộc”. Ông đã chọn sẵn một tên cho cậu con trai chờ đợi mong ước là Võ Văn Quý. Nhưng “Cho hay trời chẳng chiều người” (Kiều), nên ông buồn bã, không màng tìm tên khác mà chỉ đổi chữ văn thành chữ thị cho tên dì tôi.
Lúc sinh tiền ông ngoại tôi hay đãi đằng bạn bè thân hữu ở nhà. Bà ngoại tôi là con gái cưng của một gia đình Tàu lai. Cha mẹ nàng không bắt con phải học nấu nướng thêu thùa gì cả. Ông ngoại tôi phải thuê mấy ông đầu bếp giỏi có tiếng ở Sài Gòn về Vĩnh Long dạy nấu nướng cho mẹ tôi, con gái đầu lòng yêu quý của ông. Rồi ông giao trách nhiệm, quyền hành chợ búa nấu nướng đãi khách cho mẹ tôi. Sau nầy khi có gia đình, mẹ tôi có mở trường dạy nữ công gia chánh ở Sài Gòn. Trong các học trò của mẹ tôi có một bà làm dâu một gia đình giàu xụ, nhưng lại có đông dâu. Đến ngày giỗ chạp các chị em bạn dâu tranh nhau nấu món ngon vật lạ trong khi vẫn giữ kín bí quyết của họ. Bà thấy mẹ chồng quý nể mấy con dâu kia hơn nên bà lên Sài Gòn học với má tôi. Thành tài rồi bà được cả mẹ chồng và mấy bà dâu kia xuống nước nể nang bà vô cùng. Để tạ ơn thầy, lần nào bà lên Sài Gòn là nhà tôi có cả mấy tá gà, vịt trái cây đủ loại.
Ông ngoại tôi là chủ điền ở Ngã Tư Long Hồ, tỉnh Vĩnh Long, thường được lối xóm láng giềng kính nể. Nhưng ông có khuyết điểm lớn là rất gắt gao về phong tục lễ giáo, vậy mà ông anh cả của ông ngoại, có một lượt đến ba bà vợ ở chung nhà. Tuy nhà đồ xộ, có một dãy phòng riêng cho gia nhân, nhưng cũng là một nhà, ra vào chạm mặt nhau, thế mà ông ngoại tôi không dám chê bai chỉ trích gì cả. Trong khi người em Út của ông cưới một người đàn bà nết na, đức hạnh, chỉ phải cái tội là không môn đăng hộ đối với gia đình chồng, thì ông ngoại tôi từ em, không cho lui tới nhà. Thậm chí tới lúc gần chết, người em tốt bụng đến thăm anh. Ông ngoại tôi chồm dậy la hét, đuổi em ra khỏi cửa. Tuy thế ông ngoại tôi vẫn là người tốt, hết lòng thương lo cho vợ con.
Dì Út tôi lớn lên trong gia đình mười chị em, rất thuận hoà, thương yêu lẫn nhau. Đứa nhỏ kính trọng đứa lớn. Chị cả chăm sóc che chở cho đàn em. Mẹ thì hiền như bụt nhưng rất đảm đang việc nhà cửa, chồng con. Sau khi gả chồng cho bốn con gái đầu thì ông ngoại tôi mất. Dì Út tôi lúc ấy học nội trú trường Gia Long ở Sài Gòn. Dì rất thông minh, hoà nhã, tóc dài, mắt nâu đen quyến rũ, nụ cười hiền. Dì dong dỏng cao. Dì đẹp tự nhiên. Cái đẹp không son phấn, là lượt mà vẫn có sức thu hút ánh mắt chiêm ngưỡng của nhiều khách lại qua. Trông dì, tôi không khỏi nghĩ đến hai câu thơ của Quắc Quốc phu nhân ngày xưa khi bà vào chầu vua:
“Bất hềm điểm phấn ô nhan sắc.
Đạm tảo nga mi triều chí tôn.”
Một hôm được mời ăn tối ở nhà người bạn, dì gặp một chàng trai vừa đỗ bằng bác sĩ ở Pháp về. Chàng rất cao, điển trai, chỉ gặp dì có một lần mà đã xao xuyến tâm can. Từ đấy chàng cứ đeo đuổi dì tôi, hoặc trước cổng trường Gia Long hoặc ở những nơi dì hay lui tới. Nhưng chàng vẫn chưa bao giờ được cô nữ sinh tóc dài kia ban cho một lần hò hẹn. Đời má tôi, nghĩa là hồi ông ngoại còn sống vẫn còn “Nam nữ thọ thọ bất thân”. Má tôi là con gái đầu lòng, cha mẹ đặt đâu, con phải ngồi đó. Bà chỉ học được tới lớp nhất, không phải vì nhà nghèo, mà vì theo lề lối xưa, con gái không cần chữ nghĩa nhiều. Chỉ lo công, ngôn, dung, hạnh là đủ để sau nầy thờ chồng và dạy dỗ con. Sau đám hỏi chính thức với ba tôi qua mai mối, lúc ra đường gặp ba tôi đến chào hỏi gợi chuyện, mẹ chỉ cúi đầu, ngoảnh mặt đi nơi khác. Chẳng biết trong lòng bà có giao động không? Ấy thế mà mẹ tôi rất khá thi văn, chữ nghĩa. Bà thuộc lòng nhiều bài thơ, thành ngữ, ca dao. Có lẽ ông ngoại tôi đã dạy thêm ở nhà. Ba tôi là người to tiếng nhưng mẹ tôi thì lại nhỏ nhẹ nhưng lại định đoạt hầu hết các việc quan trọng trong gia đình. Ví dụ như lúc tôi muốn du học ở Pháp, tôi cứ hỏi phép mẹ tôi, để bà lo liệu về việc chấp thuận của ông già và bao chuyện linh tinh khác.
Hình như tôi đã đi xa đề tài câu chuyện, nhưng tôi nghĩ là lối sống của những người trong gia đình ông ngoại tôi và những gì xảy ra nơi ấy đều có ảnh hưởng không nhiều thì ít đến tính tình và sự suy luận của dì tôi. Châm ngôn ta há chẳng có câu “Nuôi heo chọn giống, cưới con gái chọn dòng” hay sao?
Xin kể tiếp mối tình của dì dượng tôi. Dượng, tên Trần Văn Còn, là con trai duy nhất của gia đình ông Huyện Muôn ở Mỹ Lòng, Bến Tre. Ông H. Muôn cũng có hai bà vợ ở chung nhà. Ông có ruộng đất mênh mông, cò bay thẳng cánh. Ngày xưa thuở thập niên hai mươi, ba mươi, ai đi học ở Pháp về là có thớ lắm. Hơn nữa dượng lại là con nhà giàu. Các gia đình có con gái đều gấm ghé cho con mình được về nâng khăn sửa túi cho chàng trai nầy. Ông Huyện Muôn cũng muốn cho con trai mình lập gia đình để được có cháu nối dõi tổ tông và phụng thờ hương lửa. Dượng tôi muốn vừa lòng cha mẹ nên cũng thuận lui tới với gia đình vài cô gái, nhưng chưa chấm được cô nào cả cho đến hôm gặp dì tôi thì dượng sa lưới tình ngay, như Kim Trọng của Nguyễn Du,
“Lại mang lấy một chữ tình.
Khư khư mình buộc lấy mình vào trong”.
Sau khi dì tôi học xong trung học, gia đình bên dượng nhờ mai mối đến hỏi dì tôi cho dượng. Bà con lối xóm ai cũng rất đỗi ngạc nhiên khi nghe bà ngoại tôi không bằng lòng gả con cho người ta. Hỏi bà thì bà nói rằng cậu ấy đi chơi với nhiều người mà không cưới người ta là thất đức. Gả con cho cậu sợ sau nầy con cháu mình bị quả báo. Dượng tôi khổ sở, thất vọng khôn cùng. Nhưng rồi tình yêu cũng thắng, tuy tình yêu lúc ấy chỉ có đơn phương thôi. Nhưng dượng không lung lay, nói rằng nếu không lấy được dì thì không cưới vợ. Lại có một ông thầy tướng số nổi tiếng hay như tiên tri, xem tuổi và chỉ tay cho dì Út, nói với bà ngoại tôi và cả nhà là dượng dì có duyên tiền định, nếu lấy nhau sẽ rất tốt. Thêm nữa sự trì chí của dượng đã chiếm được lòng dì tôi, nên dì ngỏ lời với người quen chung là nếu gia đình dượng cho mai mối đến lần thứ hai, thì dì sẽ thuyết phục bà ngoại gả dì cho dượng. Quả như dì nói, lần nầy bên nhà trai đến hỏi, bà ngoại tôi bằng lòng cho đôi trẻ kết hôn. Có lẽ nhờ ảnh hưởng của ông thầy bói và vì bà ngoại tôi cũng xiêu lòng khi thấy chàng trai nầy yêu con mình nhiều như thế. Hơn nữa bà thấy con mình cũng thương người ta.
Ngày lành tháng tốt đã được chọn. Hôn lễ được cử hành trong không khí trang nghiêm nhưng không ai khóc cả. Dì tôi khỏi phải làm dâu. Dượng đã mua sắm nhà riêng và mở phòng mạch ở BếnTre. Trong vòng chưa đầy ba năm dì dượng cho ra đời hai cậu trai kháu khỉnh nên bên nội mừng rỡ khôn cùng. Sau đó dì dượng tôi dọn về Sài Gòn. Có lẽ để có trường học tốt cho các con. Cả nhà bên ngoại tôi cũng dọn về Sài Gòn trong thời điểm đó. Mẹ con, chị em lại tương phùng. Mẹ góa và mười con gái thương nhau vô tận. Họ đi chơi chung với nhau, chụp hình, quay phim, líu lo chíu chít như một đàn gà. Dượng tôi rất thỏa mãn thấy vợ mình hạnh phúc. Người ta phần đông không muốn gần gũi lắm gia đình bên vợ. Dượng tôi thì trái lại thương quý gia đình bên ngoại tôi vô cùng. Tình thân và liên lạc ấy không thay đổi cho đến ngày dượng mất.
Dượng dì lúc nào cũng gần gũi nhau như chim liền cánh cây liền cành, tối ngày gọi nhau bằng chéri, chérie. Dì tiếp tục sinh thêm cho dượng ba đứa con nữa: hai trai, một gái. Vị chi tất cả là năm người. Trong những bữa cơm với con cái, và đôi khi có chị em, bà con, dượng thường lòn tay xuống gầm bàn để nắm tay vợ và hai người nhìn nhau âu yếm mỉm cười. Họ hạnh phúc vô biên.
Nhưng một năm kia dì tôi bị cancer xương. Dượng tôi đưa dì qua Paris để trị bệnh. Dượng tìm tới trước sau tất cả chín vị bác sĩ có tiếng nhất về cancer để trị bệnh cho dì. Nhưng bệnh dì vẫn không thuyên giảm, nên sau hơn nửa năm chạy chữa dì dượng trở về Việt Nam để cho dì gần gia đình trong những ngày cuối.
Dì nằm liệt suốt ngày. Nằm đó mà lo ngại cho các con, nhất là đứa bé nhất, em Vĩnh, sẽ ra sao lúc dì không còn nữa. Dì rất sợ cho nỗi cô đơn sắp tới của dượng. Dì thương mẹ, thương các chị từ đây sẽ vắng dì. Dì không sợ chết mà chỉ sợ cho những người còn ở lại. Dì ơi, cả đời dì luôn vị tha, nghĩ đến người khác, cả đến lúc lâm chung.
Rồi phút lo sợ nhất của mọi người trong gia đình đã đến. Dì tôi trút hơi thở cuối cùng trong một đêm không trăng, cỏ cây, chim chóc, vạn vật hình như cũng để tang dì. Dượng tôi già hẳn đi sau đó. Bà ngoại tôi khóc gần ngất lịm đi. Cảnh tre khóc măng cào xé lòng người chung quanh. Các con của dượng dì thảm não, nhìn thương hại vô cùng. Má tôi và mấy dì xúc động không lời, nhưng lệ tuôn như mưa dầm.
Sao Chúa lại gọi một người toàn vẹn như dì đi sớm thế? Các con dì cần dì, bà ngoại, má con và các dì cần dì, con cần dì. Nhất là dượng, làm sao dượng có thể sống bình thường lại được khi người yêu quý nhất đời dượng đã bỏ dượng ra đi? Thế giới của dượng từ đây, càng đông thiên hạ, càng thấm thía cái nỗi quạnh quẽ cô đơn nhiều hơn,
“Trăm năm yến tiệc linh đình
Nghìn năm anh vẫn nhớ mình, mình ơi”(vô danh).
Đã đành trần gian là cõi tạm, cuộc sống sau đó mới là vĩnh cửu, nhưng dì còn trẻ quá, dượng vẫn còn đang độ sung mãn, các con dì trìu mến mẹ rất nhiều, mọi người trong gia quyến gần xa đều xem dì như thần tượng. Trời ơi, làm sao con nói hết được nỗi lòng của con và của những người thân yêu trong tiểu gia đình của dì và đại gia đình của chúng ta? Riêng đối với con, dì là người dì yêu quý và toàn vẹn nhất trên đời. Dì ơi, con sẽ thắp nén hương lòng để tưởng nhớ dì mãi mãi và noi gương sáng dì để lại.
Ngày tôi sang Mỹ, dượng tôi đi làm trễ để có thì giờ tiễn tôi đi. Dượng nói: “Dì Út lúc còn sống rất thương cháu, vì cháu sống gần với dì dượng hơn các cháu kia. Dượng cũng xem cháu như con của dượng. Nay cháu sắp có một đời sống hạnh phúc, dượng rất vui mừng”. Dượng đã đổi sẵn một số tiền ra Mỹ kim để tặng tôi.
Sau năm 75, các con đã thành gia thất, dượng sang Paris ở và mở phòng mạch nơi đấy. Nhà dượng trưng bày la liệt hình dì. Dượng mang theo cả quần áo của dì và trân giữ chúng nó cho đến ngày dượng mãn phần. Năm nào dượng cũng làm giỗ tưởng niệm dì, không bao giờ sai chạy. Ôi, tình nặng như non, nghĩa sâu tợ bể. Dượng đã như gà trống nuôi con cho đến ngày các con đủ vây cánh đối chọi với đời. Trong gia đình dượng, con, rể, dâu, cháu có tất cả mười người bác sĩ và một dược sĩ ngoài những nghề nghiệp hữu ích khác cho xã hội. Con gái duy nhất của dì dượng, bác sĩ Lê Nga, chồng là bác sĩ Lê Thanh Hà, và ba con trai của cặp Nga-Hà, BS Lê Tạo, BS Lê Thông, BS Lê Hạo và ba người con dâu bác sĩ, chẳng những hành nghề y khoa mà còn cho ra những quyển sách y khoa giá trị, được đồng nghiệp nể nang. Ngoài ra, em Nga và dượng Hà đã bao lần qua lại Việt Nam và Haiti, biếu tiền và trị bệnh miễn phí cho đồng bào và dân nghèo ở các nơi đó. Cặp Nga-Hà còn dự định trở về sống ở Việt Nam để tiện bề giúp đỡ đồng bào khốn khổ. Dượng Út đã thành công khả quan trong mọi công việc dượng làm và dìu dắt các con nên người hữu dụng cho đời, cho xã hội. Dì Út con ở suối vàng chắc đã được mãn nguyện lắm.
Con trăm ngàn kính lạy tạ ơn dượng dì đã lo lắng cho con trong những ngày di cư, những tháng năm ở Pháp, cho con những kỷ niệm khó quên trong đời, làm gương tốt cho con noi theo, và nhất là tình thương dì dượng cho con mênh mông như bể rộng sông dài.
Kính thương,
Cháu Hoàng Minh Nguyệt.
Mừng Cố Nhân Về Lại Mỹ Tho
Mừng cố nhân về lại Mỹ Tho
Sông xưa xin đón khách sang đò
Quê tôi lam lũ nhưng tình rộng
Bước khẽ đừng lay động ý thơ
Mời khách dừng chân nơi bến cũ
Ruộng vuông, mương ngắn lắm niềm đau
Mỹ Tho tỉnh hẹp bao nhiêu mẫu
Mà chứa than ơi vạn cổ sầu
Giọng hát hoài lang đầy tuyệt oán
Đêm dài bóng chiếc ngả song thưa
Anh đi chiến trận tình phiêu lãng
Tôi ở thành đô mộng ước thừa
Gió lộng cành tre xoay lắc lay
Mây chiều phiêu bạt lửng lơ bay
Người xưa đã quyết không nhìn lại
Thì luyến chi ai giấc mộng dài
Mừng cố nhân về lại Mỹ Tho
Hàng dừa soi bóng nước lô nhô
Máy chèo khua động rung rinh sóng
Tủi nước thương làng dạ ngẩn ngơ
Những bờ tre sậy, những cồn lau
Tuy chốn quê xưa quá ngọt ngào
Nhưng hãy quên đi tình quá khứ
Sống đời cho trọn nghĩa thanh cao
Hoàng Minh Nguyệt
Có Phải Là Anh?
Tình cờ đọc đoạn thơ mưa
Tay run chợt ngỡ người xưa hiện về
Tên quen cuối góc rõ đề
Tôi hoang mang hỏi: tên ngườì? tên anh?
Bao năm rồi nhỉ anh hề
Ta sao biết được ai về, ai đi?
Duyên xưa dẫu chẳng vuông tròn
Còn đây chút nghĩa, dậm mòn nhớ nhau
Paris, Paris chiều mưa bay
Yêu nhau thuở ấy nhiều mong dài
Sân trường ghế đá hồn u hoài
Em đọc thư anh rồi mơ say
Paris, Hoàng Diệu tháng ngày
Bên kia Chức Nữ, bên này Ngưu Lang
Em buồn, anh luống bàng hoàng
Em vui, anh sợ dậm ngàn em bớt thương.
Paris chiều nay nếu còn mưa bay
Em không luyến tiếc mối tình không dài
Em cũng chẳng còn trông ngóng lắm
Mong ký ức vẫn đẹp tuy tình đã lạt phai.
Hoàng Minh Nguyệt.
Dở Dang
Thu đến cây khoe sắc đỏ vàng
Luật đời ai níu được thời gian
Tim đau ngoái lại mùa thu cũ
Ngày ấy thanh bình, mộng chứa chan
Ngày ấy thanh bình mộng chứa chan
Tay trong tay dưới ánh trăng vàng
Ta yêu nhau, nghĩ gì giông bão
Đâu biết sau mình sẽ dở dang
Đâu biết sau mình sẽ dở dang
Thế rồi đôi ngả biệt quan san
Em đi, tìm một tương lai sáng
Anh về, chiến trận giữ gian san
Anh về, chiến trận giữ gian san
Ta hứa trung trinh dẫu dậm ngàn
Nhưng rồi xa cách, rồi năm tháng
Chung cuộc tình mình đã dở dang.
Hoàng Minh Nguyệt.
La Vie Est Un Rêve, Et Rêve Est
Qui aurait su qu’au crépuscule de ma vie
Ton arrivée réveillait en moi un firmament de magie
Te rends tu compte que, totalement, tu as conquis
Mon coeur, mon âme et mon esprit?
Mon coeur dit oui, mon esprit en désarroi
Ne me demande pas comment et pourquoi
Pourquoi sont mes cheveux noirs?
Pourquoi est l’océan de couleur turquoise?
Oh rivière d’âme, oh courant de passion
Un moment tes flots sont enceints d’émotions
Autres instants on n’y trouve qu’oblitération
Pourtant je te suivais aveuglement
Parce que je t’avais vendu mon âme depuis longtemps
Quand les rayons du jour s’en vont
Ensemble nous perdons notre raison
Vers le stratosphère nous voyageons
Nuit après nuit les rêves sont notre monde
Maintes fois tu me chuchotais
Mon amour, réjouissons-nous des moments présents
Car la vie est un rêve , et rêve est
Ce qui vient demain nous ne savons jamais.
Hoàng Minh Nguyệt
Liệt Nữ
Há phải râu mày mới gió sương
Quần hồng bao thuở dẹp biên cương
Hạn Vũ dẫu danh lừng muôn hướng
Ngu Cơ tiết nghĩa vẹn mười phương
Người dẫu đi hồn còn bất diệt
Thời gian muôn thuở cõi vô thường
Bao năm khói lửa ngời sông núi
Đất Việt vẫn tồn dưới ánh dương
Hoàng Minh Nguyệt.

