Tác giả/Nữ Mục Sư HOÀNG TRÚC LY.

Nhà văn Hoàng Trúc Ly cũng là mục sư Camellia Hoàng Trúc Ly
. Sinh trưởng tại miền Tây, Việt Nam
. Qua Mỹ năm 1975
. Năm 11 tuổi bắt đầu viết truyện ngắn & hồi ký. Sau chuyển sang viết về xã hội.
. Năm 17 tuổi viết truyện ngắn “Mây Trắng” đăng lần đầu trong Tập san Tin Văn.
. Hiện cộng tác với:
– Các báo on-line
– Diễn đàn vanchuongpn
. Đã xuất bản tập truyện “Con Chim Quốc Mái”.
Ngôi Nhà Trắng.
Ngôi nhà trắng nằm chơ vơ trên mảnh đất rộng thênh thang, cỏ mọc xanh mướt, mịn như nhung, phía sau ngôi nhà trắng có khu vườn trồng đầy hoa hồng, hoa sơn trà và hoa lan, ba loại hoa mà bà Brown thích nhất. Bà Brown cất ngôi nhà ba tầng này đã gần sáu mươi năm rồi. Mảnh đất bà đang ở, kể luôn khu phố chợ và con đường tráng nhựa xe cộ chạy dập dìu suốt ngày trước kia là của bà. Chín mươi công đất nầy mấy chục năm trước đây chỉ toàn là nông trại với những cánh đồng trồng khoai, bắp, cà tô mát và lúa mì. Chưa kể những cánh đồng chỉ để dành trồng cỏ nuôi bò, trồng loại cỏ ngựa chỉ cần rải hột và khi trời mưa vài đám, cỏ lên xanh rì thấy ham. Bà làm giàu là nhờ trồng bắp, khoai và cà tô mát. Những loại này dễ bán hơn lúa mì. Chín mươi công đất bà bán gần hết, chỉ chừa bốn công đất, ngôi nhà trắng và một số đất bà dự tính cho nhà thờ. Mảnh đất bà đang ở, lúc chồng bà còn sống, hằng năm vợ chồng bà thường hay mở những buổi ăn ngoài trời thật vui vẻ và những cuộc săn chồn thật hào hứng. Loại chồn quỷ quyệt thích vào vườn ăn trộm thức ăn. Bà sai mấy người làm của bà cắt thịt heo muối ra từng lát mỏng để trên bàn. Bọn chồn tinh ranh rủ nhau đến ăn trộm thịt heo, món ăn chúng thích nhất. Bọn người làm của bà thẩy lưới dây kẽm bắt mấy còn chồn tinh ma đó chẳng khó, thường họ bắt hơn một chục con và đem nhốt cả bọn chồn ranh mãnh vào chiếc thùng cây rồi đậy nắp lại. Khi trò chơi bắt đầu, sáu người đàn ông cưỡi ngựa chờ sẵn, mười hai con chồn được thả ra trước, lát sau sáu con chó săn cũng được thả ra để rượt đám chồn. Loại chó săn cẳng cao, ốm nhách, chạy như bay, chạy thật lẹ không thua đám chồn, phía sau có sáu người cỡi ngựa rượt theo đám chó săn. Đám người hăm hở rượt đám chó, lũ chó săn hung dữ đổ xô rượt theo bọn chồn khốn khổ đang chạy trối chết, con nào vô phúc bị chó bắt là kể rồi đời. Nhưng từ hồi nào tới giờ bà Brown chưa từng thấy đám chó săn của bà bắt được một con chồn nào cả. Loại chồn quỷ quyệt chạy nhanh đáo để, lại biết chun vào lỗ, vào hang để lũ chó săn chỉ biết đứng chõ mõm, sủa chổng mông, rồi rốt cuộc cũng chịu thua lũ chồn tinh ranh, khôn quỷ đó. Vợ chồng bà mở tiệc tùng liên miên, tuần này săn chồn, tuần sau sãi ngựa nhảy qua hàng rào tranh giải. Vào mùa hè khi trời sẫm tối, đom đóm bay đầy lập lòe trong rừng cây thông, nai đi cả đàn, chồng bà rất thích đi săn nai, ban đêm ông đội chiếc nón có đèn sáng lấp lánh, tội nghiệp cho những chú nai khờ dại gặp đèn sáng không chịu chạy, lại cứ đứng lì ra mà nhìn thế rồi bị viên đạn vô tình giết chết. Khi hạ được con nai, ông Brown dùng dao bén cắt cổ họng cho nó chết hẳn rồi mới vác xác nó về nhà. Bà Brown rùng mình khi bà nghĩ đến những miếng thịt nai bà đã ăn trước kia, chúng hôi mùi cỏ lạ lùng, thế sao bà vẫn ăn được những miếng “bí tết” thịt nai đó và lại cho là rất ngon lành béo bổ nghĩ cũng lạ …
Bà Brown ở một mình trong ngôi nhà trắng hơn hai mươi năm rồi. Kể từ khi ông Brown mất, lúc đầu bà cảm thấy buồn và cô đơn lắm, nhưng nghĩ cho cùng già rồi ai cũng phải chết. Lá vàng phải rụng để nhường chỗ cho lá xanh, đó là luật đời mà! Bà có đứa con gái tên Chessie, nó xinh xắn và tốt bụng lắm, nó trẻ và mơn mởn như chiếc lá xanh, bất hạnh thay nó rụng trước hai chiếc lá vàng úa, ông bà đau buồn cả năm trời, nhưng rồi ông bà tự an ủi cho là số mạng vậy. Chồng bà và bà là hai người có đạo, tuy nhiên bà mộ đạo hơn ông. Năm nay bà đã chín mươi mốt tuổi chẵn, nhưng nhờ ơn huệ trời ban bà vẫn còn lái xe đi mua sắm được. Trong khi đó mấy người làm, anh, em và bạn bè của bà đã vào nằm an nghỉ vĩnh viễn trong nghĩa trang hết rồi. Làm một kiếp người thật ngắn ngủi, cùng lắm là bà chỉ sống thêm vài năm nữa, một trăm năm đối với bà chỉ như một giấc chiêm bao. Mới lúc nào bà hãy còn trẻ lắm, hằng ngày bà phải làm việc quần quật ở ngoài đồng với bọn thằng John, Tom, Ben và con Marie … Bọn người làm của bà toàn là những người nghèo khổ từ Âu châu sang Mỹ bằng những chiếc tàu tồi tàn, họ sống chen chúc dưới hầm tầu cả tháng trời làm nước da trắng của họ trở nên trắng bệch và xanh mét như những người mắc bệnh phù thủng lâu ngày. Tội nghiệp anh em thằng Tom, bà chắt lưỡi, lúc chúng nó đến nông trại bà để xin việc làm, hai anh em nó ốm nhom ốm nhách, ho khèn khẹt thấy phát sợ. Chồng bà chê hai anh em thằng Tom giống như hai con cò ho lao. Bà thấy thương cảm nên năn nỉ mãi ông chồng mới chịu mướn chúng nó. Nông trại có nào thịt, nào khoai, bắp, thức ăn ê hề, bà tẩm bổ cho hai anh em thằng Tom, chỉ một thời gian ngắn, tụi nó mập cùi cụi như hai con trâu thiến. Hai anh em hết lòng làm việc đồng áng từ sáng sớm cho đến khi trời sụp tối mới chịu nghỉ ngơi. Chừng anh em thằng Tom có vợ bà thưởng cho mỗi đứa một con bò sữa. Nhờ bà có tấm lòng từ thiện nên bà mướn được nhiều nhân công rất giỏi và rất trung thành với bà. Bà Brown ngồi nghĩ ngợi mông lung trên chiếc băng đá đặt ở góc vườn hoa một lúc rồi bà đứng dậy đi về phía nhà kho đẩy chiếc máy đi cắt cỏ. Phía trước sân nhà bà cỏ lên dài thậm thượt, lá sồi vàng úa rụng đầy sân, ngập cả lối đi. Mấy hôm nay bà chờ thằng Henry đến cắt cỏ và cào lá rụng, bà chờ nó mãi nhưng chẳng thấy nó đến, cái thằng thật tệ, kể từ khi nó cặp bồ với con Lilian, nó quên hết công ăn việc làm, cái thứ trai điếm đàng gặp gái lẳng lơ nó bắt cả hồn lẫn xác, một khi nó mê rồi ông trời cũng phải chịu thua, bà thở dài ứ hự cho cái thân già phải làm cái công chuyện của thằng Henry. Bà nổ máy, chiếc máy quỷ quái sinh sự đáo để, phun khói đen thui bay mùi khét lẹt, bà đẩy nó đi vài lần bà bắt đầu thấm mệt …
– Ứ hự, ước chi ông Trời sai thiên thần xuống giúp ta … Bà nói lẩm bẩm và tiếp tục đẩy chiếc máy đi cắt cỏ trước sân.
– Trời, sao mẹ lại cắt cỏ?
Cô gái mặc bộ đồ thể thao màu sữa hơi bó vào thân hình mảnh khảnh, đầu đội chiếc nón bo cùng một màu với bộ đồ. Cô ta đội chiếc nón thật kiểu cọ, nó hơi nghiêng xéo qua một bên, một phần ba vành nón được bẻ cong xuống che gần hết khuôn mặt trái soan của cô ta. Cô gái nói thật lớn và chạy theo bà Brown:
– Để con cắt cỏ cho mẹ.
Bà mẹ ngừng cắt cỏ, bà nhìn cô gái và nói:
– Con bé Linh, ta tưởng con sẽ đến thăm ta vào ngày mai.
– Mẹ ạ, trời hôm nay đẹp lắm, con lại mê cái công viên gần nhà mẹ, bây giờ là mùa thu, trong công viên cây thay đủ màu lá, đẹp như thiên đàng. Con thích đi bách bộ trong đó, nhìn lá cây rụng và lắng nghe tiếng lá khua xào xạc dưới bước chân con.
– Con dại quá, đi một mình trong khu công viên vắng vẻ, rủi ro gặp mấy thằng khùng … nó bắt con … rồi nó liệng xác con xuống con suối gần đó, đâu có ai biết. Đừng bao giờ đi vào trong đó một mình nữa.
– Con già rồi mẹ, chẳng ai thèm bắt con đâu.
– Hừ, cần gì già hay trẻ, cứ nhìn vóc dáng của con … Khi thằng điên lên cơn … nó sẽ vặn cổ con … con biết những thằng mắc bệnh necrophilia chứ? Chúng hay theo dõi đàn bà đẹp đặng bắt cóc họ, rồi giết đi để ngủ với xác chết. Ta chẳng nói đùa đâu.
– Mẹ để con cắt cỏ nhé.
Linh nói lảng vì biết tánh bà mẹ nuôi hay lo xa, công viên nàng đi ban ngày tuy vắng vẻ thật, nhưng nàng chẳng sợ, chết sống là do số mạng. Mùa thu đi một mình trong công viên nhìn lá rụng nên thơ biết mấy. Nàng thích đi qua những cây cầu ván bắc ngang mấy con suối, đôi khi nàng dừng lại nhìn bầu trời xanh lơ và lắng nghe tiếng nước róc rách dưới chân cầu. Ôi thơ mộng làm sao.
Bà Brown ngồi dựa lưng vào chiếc ghế đặt trước thềm nhà, bà nhìn đứa con gái nuôi cắt cỏ, con nhỏ trông mảnh mai mà mạnh thật, cái máy cắt cỏ và hút luôn cả lá cây nặng nề như vậy mà nó đẩy đi lẹ quá, bà nói lẩm bẩm một mình.
Linh cho ngừng chiếc máy cắt cỏ, nàng phủi tay và vuốt mái tóc đen dài về phía sau lưng trước khi đội lại chiếc nón.
– Cây lược cài bạc ta cho con đâu? Con nên cài lên tóc để cho ta thấy cái mặt xinh xắn của con.
– Mẹ ạ, con không thích cài tóc, con chỉ thích để tóc xõa xuống tự nhiên như thế này.
– Thế à? Có ngày ta lấy cây kéo bén sởn bớt mái tóc của con! Trời cho gương mặt đẹp mà cứ để tóc sùm sụp dấu cả mặt mày.
– Mẹ, hãy để yên cho con cắt cỏ nhé. Linh nói và cười ngặt nghẽo.
Bà Brown nói:
– Con chưa hẳn là một người lớn hoàn toàn. Con ngộ nghĩnh và lạ lùng lắm, tuy nhiên con là đứa con nuôi Á đông bé nhỏ mà ta thương như con ruột, mỗi khi con kêu ta bằng mẹ, lòng ta cảm thấy ấm cúng làm sao.
– Riêng con cũng thế, mỗi khi nghe mẹ kêu con là con bé Linh yêu quí hay con bé Linh ngoan ngoãn của mẹ, con cảm thấy trẻ thơ lại và cần được mẹ che chở, con mồ côi từ thủa bé thơ đó mẹ ơi. Linh chỉ nghĩ nhưng chẳng nói ra, nàng mỉm cười khi thấy bà mẹ nuôi nhìn nàng cười. Tánh nàng kín đáo lắm.
– Con đẩy chiếc máy đi với ta về khu nhà kho.
Dãy nhà kho cách ngôi nhà trắng một khoảng khá xa và cũng được sơn cùng màu trắng. Chờ bà mẹ nuôi mở cửa căn nhà kho, Linh đẩy chiếc máy cắt cỏ vào căn phòng thật ẩm thấp, sáng lờ mờ.
– Con hãy đẩy nó vào chỗ này.
Bà Brown chỉ Linh chỗ để chiếc máy cắt cỏ, bên cạnh một chiếc máy cắt cỏ khác, đặt sát tường.
– Con hãy tháo chiếc bọc đựng cỏ ở đàng sau máy ra và đem nó lại đằng kia đi con.
Linh mang bọc cỏ đi về phía góc căn nhà kho, dưới ánh sáng lờ mờ, nàng thấy nhiều sợi dây xích sắt cùng với móc sắt dính vào tường, kế bên treo nào là dao, búa và kềm. Sát góc tường có chiếc xe ba bánh trên để ba chiếc thùng to. Linh ngần ngại không muốn đi tới nữa, nàng tưởng tượng nếu bà mẹ nuôi chỉ bước thụt lùi ra cửa và khóa cửa lại, bỏ nàng trong căn phòng này một mình chắc nàng sẽ chết vì sợ.
– Con hãy đi lại đó đổ cỏ vào thùng thiếc đi.
Thấy Linh chần chờ chưa chịu đi, bà nói:
– Ta đã đi vào căn phòng này cả trăm lần rồi và chưa từng gặp con ma nào, vậy con đừng sợ, hãy đi lẹ lên đi, giỏi đi con.
– Mẹ này, có phải căn phòng này trước kia là nhà tù dùng để tra tấn tù nhân không?
– Con bé Linh, sao con nói bậy nói bạ quá, ta là người có đạo mà, căn phòng này trước kia ta dùng nó để đóng móng ngựa, xiềng những con ngựa chứng, đàng kia là chỗ để lò rèn, trước kia ở nông trại nào cũng tự đúc dụng cụ làm ruộng để xài.
– Nhưng ai làm chuyện đó cho mẹ.
– Ta có mướn một tên thợ rèn da đen, tên nó là Kaku, nó thuộc giống Hắc nô, người dân bản xứ ở đảo Kanaka. Thủa ấy chỉ có người làm da đen mới được ở đây. Ban đêm những người da đen khác không được ngủ ở xóm này. Trường học không cho người da đen vào học chung.
– Họ kỳ thị đến thế sao?
– Đen và trắng khác nhau, như con da trắng và xinh đẹp, nếu có một thằng da đen yêu con, liệu con có yêu nó không?
– Con sẽ yêu nó, nếu nó có đạo đức.
– Hừ! Yêu một thằng da đen đạo đức?
– Vâng, thưa mẹ, vì con da vàng nào phải da trắng đâu?
– Ta bảo con da trắng, chớ cãi ta! Trắng đen khác nhau! Con có thấy con mèo đi cưới con chim khác giống không?
Linh bật cười té ngửa, té nghiêng khi nghe bà mẹ nuôi cho một thí dụ thật khôi hài.
Bà cũng cười với Linh:
– Con bé này còn dại quá, thôi hãy đem đổ cỏ và lá cây vào thùng, giỏi đi con.
– Con không dè mẹ còn kỳ thị quá, bây giờ là năm 2000 rồi mà.
– Ta là người có đạo, ta chỉ muốn dạy con kinh nghiệm sống, ta không kỳ thị trắng đen. Ta đi lễ nhà thờ, ta đã bắt tay và ôm hôn những người da đen.
Bà Brown nói và khóa cửa căn nhà kho lại. Bà nắm tay Linh đi dạo trong khu vườn rộng thênh thang, bà chỉ cho Linh từ cây sồi, cây tùng, cây trắc bách diệp và cả chục thứ cây khác bà đã trồng hơn năm mươi năm trước đây, có nhiều cây sồi thật cao, lá to bằng hai bàn tay xòe ra, gốc sồi hai người ôm chưa giáp. Tàn cây to che rậm bóng mát, dưới gốc cây sồi đất ẩm ướt mọc đầy nấm che kín cỏ, cả một vùng trắng toát. Linh cúi xuống bẻ một cái nấm trắng, nàng đưa lên miệng cắn rồi phun ra. Bà Brown hoảng hốt dơ tay đánh nhẹ vào tay Linh, cái nấm rơi xuống đất.
– Sao dại thế?
– Mẹ ạ, có đến 4000 loại nấm dại nhưng chỉ có 50 loại nấm độc mà thôi.
– Ta chẳng cần biết nó độc hay không? Ta không muốn mua bộ đồ đen để đi đám tang của con …
Buổi chiều hôm đó Linh ở lại ăn cơm chiều với bà mẹ nuôi. Bà Brown có thói quen ăn cơm chiều vào khoảng 5 giờ. Nàng giúp bà mẹ nuôn chiên món cá thu và khoai. Bà Brown làm món cải xà lách, thế là đủ món ăn chiều. Sau khi ăn cơm xong bà bảo Linh theo bà lên lầu mở chiếc tủ làm bằng gỗ anh đào chạm trổ thật công phu, trong tủ đựng đầy quần áo đàn bà, xếp thật ngăn nắp.
– Nầy Linh, con hãy chọn những quần áo nào con thích và hãy mặc thử, nếu vừa ta sẽ cho con.
– Đồ này của mẹ lúc còn trẻ phải không, và tên hồi con gái của mẹ là Chessie à?
Linh hỏi vì nàng thấy trên vách tủ có khắc chữ Chessie, thấy bà Brown chẳng trả lời, Linh ngỡ bà không nghe nên nàng cũng không hỏi nữa. Nàng chọn được vài chiếc áo len cổ cao, màu sậm, loại màu nàng thích nhất.
– Hồi đó mẹ cùng một cỡ với con à? Và tên lúc còn con gái của mẹ đẹp quá.
– Phải, tên Chessie đẹp lắm – Bà lẩm bẩm – Chessie đẹp người và đẹp cả tấm lòng.
Bà Brown nhìn đứa con gái nuôi mặc thử chiếc áo len của con gái ruột bà, lòng bà cảm thấy bùi ngùi, cả hai đứa cùng xinh xắn như nhau. Chessie có đôi mắt màu nâu, màu hạt dẻ và tóc của nó cũng nâu. Đôi mắt Linh màu nâu nhưng tóc nó đen. Tuy Chessie và Linh không cùng chung chủng tộc, mà lạ thật chúng hơi có nét giống nhau, cả hai đều có gương mặt trái xoan và đều thích cười. Thượng đế đã ban cho bà một đứa con gái khác, nếu cái ngày hôm đó bà không đi mua hoa lan và con bé Linh không đến hỏi bà cách trồng lan, bà sẽ không tìm đâu được một đứa con gái xinh xắn và tốt bụng như con bé Linh. Khi nó vừa mới đến bắt chuyện với bà, nó đã mỉm cười và khi bà nói tới những con chuột nhủi mũm mĩm chuyên đào đất để ăn trộm những củ non, nó cười rũ ra mà chẳng giận, con nhỏ thật lạ lùng, giống con Chessie của bà. Kể từ đó bà đã thích nó và mấy kỳ sau mỗi lần nó gặp bà, nó đều phụ bà mang những chậu hoa, hay bọc phân bà đã mua ra xe giùm cho bà. Đôi lần bà đã nghĩ nó là thiên thần trời sai xuống giúp bà, phải chỉ có thiên thần mới tốt vậy.
Linh xếp lại những chiếc áo nàng không thích, để trở lại vào tủ, nàng mặc luôn chiếc áo len màu rượu chát của bà mẹ nuôi cho. Bà Brown tấm tắc khen đứa con gái nuôi mặc chiếc áo thật vừa vặn, trông xinh xắn làm sao. Linh cười rồi bỏ chạy ra mở cửa nhà bếp khi nghe hai con mèo của bà Brown kêu, chúng đòi vào nhà, trời đã chạng vạng rồi. Như thường lệ trước khi nàng đi về, Linh chạy lên phòng bà Brown đem rác đổ và kéo hết màn cửa sổ lại, rồi mới đến từ giã bà. Thường bà hay hôn nàng và nhắc nàng đừng quên đến thăm bà, chiều nay bà bảo Linh đến ngồi bên cạnh bà, để bà có thể nhìn rõ gương mặt nàng, bà ve vuốt chiếc áo nàng đang mặc và khi hôn từ giã nàng đôi mắt bà dường như ứa lệ.
Ngôi nhà trắng được sơn lại, cũng màu trắng, nhưng không giống màu trắng ngà lúc trước. Bà Brown rất thích màu trắng, loại trắng tinh của bông tuyết rơi vào mùa đông, bà nói màu trắng tượng trưng cho sự trong sạch, thật thà. Bà là người có đạo, bà không thích gian dối. Ngôi nhà trắng toát đứng sừng sững dưới ánh nắng thu, gió heo may thổi nhẹ, lá vàng rơi lác đác trên sân cỏ. Bà Brown ngồi trên chiếc ghế xích đu đặt sát vách trên thềm căn nhà trước nhìn trời đất, nghĩ ngợi mông lung, một lúc bà quay lại nhìn Henry, gã cắt cỏ bà mướn đã mấy năm nay, hắn vừa đẩy chiếc máy cắt cỏ vừa hát, giọng hát của gã thoải mái làm sao, hắn hát toàn những bài hát trữ tình, ca ngợi tình yêu, gã đàn ông bay bướm nầy đã hơn 30 tuổi rồi, vẫn còn sống độc thân, tánh gã đam mê và đa tình lắm. Henry tuy không mấy đẹp trai, nhưng gã có sức khỏe, mà đối với đàn ông sức khỏe cần thiết hơn, nhất là Henry, gã rất tự hào về sức mạnh, cũng như thân hình lực sĩ đẹp của mình. Nghề làm vườn của Henry chỉ là nghề phụ, còn nghề dạy bơi lội trong mấy chỗ tập thể thao mới thật sự là nghề của gã. Như bà Brown đã 91 tuổi, tiền bạc đối với bà chẳng còn nghĩa lý gì cả, bà tuy không giàu bằng tỉ phú nhưng bà không thua triệu phú, bây giờ dù bà có đem hết tài sản, kể cả ngôi nhà trắng đầy kỷ niệm này để đánh đổi sức khỏe cho bà, cũng không thể được, cho nên sức khỏe quả thật quý hơn vàng, quý hơn cả ngôi nhà trắng của bà. Nhớ hồi nào đó bà còn khỏe mạnh, đi đứng, chạy nhảy, nhào lộn như chơi, bây giờ dù rằng bà còn lái xe được nhưng bà đâu dám lái xa để đi mua sắm và mỗi lần bà đi nhà thương bà phải gọi con bé Linh đi với bà.
Henry dừng máy cắt cỏ lại để nghỉ, gã giở chiếc mũ đang dội trên đầu xuống và quạt phành phạch.
– Mùa thu năm nay khô ráo quá, bà có muốn tôi tưới nước sân cỏ không?
Henry hỏi bà Brown khi hắn thấy bà nhìn gã chăm chú, không chờ bà Brown trả lời, gã lại hỏi tiếp:
-Cô con gái nuôi Á đông của bà dạo nầy …
Gã không hỏi nữa mà bật cười khi thấy Linh đi vòng ngã sau, rón rén đến đứng bên cạnh bà Brown miệng cười tủm tỉm.
– Con bé Linh đừng liến khỉ, ta thấy chiếc xe con từ đàng xa.
– Chào cô nàng, lâu quá tôi không gặp. Henry nói.
– Hừ, cô nàng! Henry nầy, tôi ghét ai kêu tôi bằng cô nàng lắm …
– Mặt mày cô như vậy không lẽ tôi kêu cô bằng bà cụ?
– Nầy Henry, chốc nữa nhớ trồng mấy bụi phong lan nhé.
Bà Brown nói rồi nắm tay Linh:
– Này con, đỡ ta đứng dậy, mấy hôm nay ta bị đau nhức luôn, đi bác sĩ chẳng thấy kết quả, già rồi hễ cử động là chỗ nào cũng đau nhức.
– Khủng khiếp quá, con sẽ chết trước tuổi già!
– Đừng nói bậy! Tại sao con phải lo xa thế?
Bà Brown bảo Linh dìu bà đến ngồi trên chiếc ghế bành quen thuộc của bà đặt ở góc phòng khách và chỉ Linh ngồi trên chiếc ghế dài bên cạnh để có thể thấy mặt Linh khi nói chuyện.
– Bà Brown ơi, tôi có chuyện muốn hỏi bà. Henry gõ cửa.
Linh lẹ làng chạy lại mở cửa. Henry bước vào thấy Linh, gã cười và giở mũ, cúi đầu nói:
– Cám ơn cô nàng!
– Hứ, đồ quỷ sứ.
– Lễ Haloween vào ngày mai, tôi sẽ mặc bộ đồ giả làm “Billy quỷ sứ”, cô gọi tôi như thế là phải rồi.
Henry nói bằng một giọng thật khôi hài, gã chậm rãi di về phía bà Brown đang ngồi, gã vừa đi vừa lắc lư thân hình vạm vỡ, hai cánh tay nổi cuồn cuộn bắp thịt, cứng như đá, khuỳnh ra, trông giống như hai cái càng con tôm hùm đang dơ lên và nó đi bằng cái đuôi. Thấy điệu bộ gã “Billy quỷ sứ” sửa tướng, Linh cười phá lên như đang bị ai thọc cù lét, giọng cười thật tự nhiên và giòn giã. Bà Brown còn lạ gì tật nhạy cười của đứa con gái nuôi, nên bà để cho nó cười chán chê, cười cho đã rồi phải nín. Bà bảo Henry trồng những cây phong lan theo ý bà, xong bà nói bâng quơ với nó một vài câu và chờ cho nó đi ra ngoài bà quay lại nói chuyện với Linh:
– Từ đây về sau con đừng nên nói chuyện hay cãi vã với thằng mọi Henry nữa nhé.
Linh cười một mình chán rồi đi đến ẵm con mèo đang nằm phơi nắng trên thành cửa sổ, nựng nịu nó. Chừng nàng nghe bà Brown nói, nàng ẳm con mèo đi lại ngồi kế bên bà mẹ nuôi:
– Sao mẹ kêu thằng Henry là mọi? Bộ mẹ theo đảng KKK (Klu Klux Klan, đảng chống đối da đen, thàng lập năm 1865)? Mẹ kỳ thị quá …
– Ta chẳng theo đảng nào, ta cũng không kỳ thị, ta là người có đạo mà.
– Thế sao mẹ chẳng cho con nói chuyện với thằng “Billy quỷ sứ”?
– Ta đề phòng con ơi! Con mèo không lấy con chim được, trắng đen khác giống mà.
– Trắng đen cùng là người cả, khác ở chỗ nào?
– Con thử nghĩ trắng đen lấy nhau, con họ sẽ có màu da gì? Đen chẳng phải đen, trắng chẳng phải trắng.
– Vậy da vàng và trắng lấy nhau sẽ thành da màu gì?
– Trắng chớ còn gì nữa.
– Mẹ kỳ thị quá!
– Hừ, mi thật cứng đầu, giống con Chessie quá. Tự lối giáo dục ở trường học bây giờ đồng hóa học trò hết.
– Chessie là ai, con nghe mẹ nhắc tên đó hoài?
– Chessie là con gái của ta, nó xinh đẹp, tốt bụng như mi và cũng cứng đầu như mi vậy!
– Con chỉ muốn binh vực lẽ phải và công bình mà thôi.
– Phải mà, con Chessie cũng chê trách ta kỳ thị.
Bà nói và đôi mắt bà nhìn vào khoảng xa xăm … Năm đó con Chessie vừa đúng 25 tuổi, thằng Nelson cũng trạc tuổi nó. Nelson là sinh viên học về vật lý và hóa học, nó tin theo khoa học và không tin có thượng đế. Mỗi tuần nó đến nhà ta cắt cỏ, tuy nó có nước da đen bóng như gỗ cây mun vì tằng tổ nó gốc Phi châu, nhưng nó cao ráo và thân hình nó thật cân đối, giống như những pho tượng đúc bằng đồng đen ở Hy Lạp hay ở xứ Ai Cập, thời xưa chắc chắn nó sẽ bị bắt làm nô lệ, đặc biệt những tên nô lệ da đen, khỏe mạnh, đẹp trai được tuyển để hầu hạ vua chúa. Con Chessie đã yêu thằng Nelson thật cuồng nhiệt và đam mê, bỏ ngoài tai những lời phê bình, chê trách của mẹ cha và giòng họ. Ta đã rầy mắng nó, ta đã khóc và năn nỉ nó, ta đã bảo nó là con mèo không lấy con chim khác giống được! Nó bảo ta không công bằng đối với loài người, tình yêu không biên giới, không phân biệt màu da. Con mèo vẫn có thể lấy con chim được nếu chúng yêu nhau. Như người ta bảo Đông là Đông, Tây là Tây. Đông và Tây không thể gặp gỡ được. Nhưng đối với nó Đông và Tây vẫn có thể gặp gỡ được ở giữa một trung điểm, đó là sự hiểu nhau và yêu nhau. Nó đem cả trăm lý luận ra cãi với ta. Hừ, ta bảo nó trên đời chẳng có tình yêu nào vĩnh viễn cả. Tiếc thay nó chẳng tin, ta phải nhắm mắt làm ngơ để cho nó thành hôn với thằng Nelson và ta giả ngu, giả dại mặc cho giòng họ, lối xóm chê bai ta không biết dậy con … Thời gian trôi qua thật nhanh, thấm thoát con Chessie đã ở với thằng Nelson được 10 năm. Như ta đã nói với nó, con mèo và con chim không thể lấy nhau được, mà thật vậy tên Hắc nô chó má đã phản bội con Chessie, nó lấy người đàn bà đồng chủng với nó. Con Chessie quá đau buồn vì nó còn yêu tên Hắc nô nhiều quá, nhưng vì lòng tự ái bị tổn thương, nó ly dị tên Hắc nô đó. Kể từ đó về sau nó biếng ăn, mất ngủ và phải đi bác sĩ thần kinh cả năm trời, nhưng tâm bệnh của nó không thuyên giảm chút nào. Một buổi sáng nọ, nó gọi điện thoại cho ta thật sớm và nói nó muốn nghe giọng nói của ta, hoảng hốt ta vội vàng lái xe đến nhà nó. Khi thấy ta mở cửa bước vào nó đi ra chào, lúc ấy nó mặc chiếc áo trắng ngắn cũn cỡn và chiếc quần trắng bó sát người, mái tóc nâu dài xõa xuống đôi vai gầy, mặt nó trắng xanh, nó đi dường như không vững. Ta hỏi nó đã uống bao nhiêu viên thuốc ngủ? Nó nói nó uống một viên, thấy không ngủ được nó uống hai viên, rồi ba viên …, nhưng bây giờ nó buồn ngủ lắm và bỏ vào phòng nằm. Ta đi vào bếp tìm chai thuốc ngủ, chai thuốc chẳng còn một viên, ta bỏ đi vào phòng ngủ của nó, thấy nó nằm ngủ trên giường, ta đến nằm cạnh nó, vuốt ve và hôn nó một lúc rồi mới đi về nhà. Hai tiếng đồng hồ sau ta trở lại, thấy con Chessie nằm nghiêng, cánh tay mặt nó co lên để phía dưới gò má, mái tóc nâu dài xõa trên chiếc gối trắng tinh. Ta sửa nó nằm lại cho ngay ngắn, té ra nó đã chết cứng đơ rồi… Bà Brown nói đến đây nghẹn ngào, nín lặng một phút.
Linh nãy giờ ngồi bên cạnh bà Brown, vuốt ve con mèo đang nằm ngủ và ngáy khò khè trên đùi, nàng lắng nghe lời tâm sự đau buồn của bà mẹ nuôi, đầu nàng hơi cúi xuống và nghiêng vào cánh tay đang để tựa vào thành chiếc ghế dài như nàng đang ngủ, mái tóc đen dài phủ xuống, che gần hết gương mặt đầm đìa nước mắt của nàng.
Bà Brown dựa đầu vào chiếc ghế, tiếp tục kể. Ta ngồi xuống bên cạnh Chessie, nâng niu, vuốt ve thân xác cứng đờ của nó lần cuối. Thân xác của nó chính ta đã tạo ra và đem nó vào thế giới nầy, nhưng tiếc rằng ta không điều khiển được trí óc của nó … Chờ khi ta lấy lại được sự bình tĩnh, ta mới báo cho cảnh sát biết và họ đến lập biên bản. Có một người đã hỏi ta rằng, bà biết con bà uống thuốc tự tử tại sao bà không cứu nó, bà có điên chăng? Có ai hiểu được tình mẫu tử, mẹ nào chẳng thương con? Chessie là đứa con gái độc nhất của ta, chính ta đã nhắm mắt làm ngơ để cho nó theo ở với tên Hắc nô Nelson, đó chẳng phải ta đã quá thương nó hay sao? Rồi sau này qua những năm dài đau khổ của Chessie, ta đã luôn luôn đi bên cạnh che chở và an ủi nó, nhưng ta biết vết thương lòng của nó sẽ không bao giờ hàn gắn được, có ai hiểu con bằng mẹ? Chessie đã muốn đi vào cõi bất tử vĩnh viễn, ngõ hầu tìm sự yên tĩnh cho tâm hồn của nó, tại sao ta phải giữ nó? Có phải ta đã nói rằng ta đã quá thương yêu đứa con gái độc nhất của ta không? Bà Brown hạ thấp giọng xuống thật nhỏ và giọng bà hơi run rẩy như lời trăn trối tận đáy lòng mình.
Bên ngoài song cửa nắng chiều đã tắt, gió thu hiu hiu thổi những chiếc lá vàng úa cố bám lấy cành lần cuối trước khi rơi và xoáy nhẹ trong gió. Bà Brown nhìn những chiếc lá vàng rơi, bà chẳng thấy thương tiếc, bà chỉ tiếc thương cho những chiếc lá xanh mơn mởn bị cơn giông tố đêm qua đã làm cho chúng lìa cành.
Hoàng Trúc Ly
(Viết theo tâm sự bà V. K. Johnson)

