Tác giả/Nhà văn VÕ THỊ TRÚC GIANG LÚA 9.

. Họ và tên: Võ Thị Tường Vy
. Sinh trưởng tại Bến Tre
. Cựu học sinh trường Trung học Nguyễn Đình Chiểu, Kiến Hòa
. Cựu sinh viên Cao Đẳng Sư Phạm Mỹ Tho
. Định cư tại Đan Mạch năm 1978 và tốt nghiệp trường Laborant tại Copenhagen
. Cựu sinh viên Nha khoa tại Copenhagen
. Từng cộng tác với Hội Người Việt Tỵ Nạn (NVTN) địa phương và con tàu Cap Anamur (nay là hội Mũ Xanh) để cứu vớt thuyền nhân vào thập niên 80.
. Cựu thành viên Ban Chấp Hành Văn Bút Việt Nam Hải Ngoại (Âu Châu); Hội NVTN tại Saarland, Đức quốc; Hội Xây Dựng Tượng Đài NVTNVN tại Hamburg
. Nhân viên của Hội Hồng Thập Tự Đức, DRK Saarland, MGH tại Saarland, KISS ( Moderator group chống bệnh trầm cảm thông qua thiền định ).
. Thông dịch viên Đức Việt cho cơ quan xã hội tỉnh Saarland.
. Hiện cư ngụ tại Neufgrange France
. Nghề nghiệp hiện nay: Thông dịch. Viết văn. Dịch sách
. Cộng tác với các tờ báo: Viên Giác Đức quốc, Nhịp Cầu Strasbourg, Âu Du, và nhiều tờ báo khác tại Hoa Kỳ
. Thành viên của diễn đàn VHHN và vanchuongpn
. Đã xuất bản:
– “Tình Yêu Nuôi Tôi Lớn” (Truyện và thơ, NXB Bạn Văn, 1999)
– “Đây Mưa Kia Nắng” (Truyện và thơ, NXB Bạn Văn 2005)
– “Thà như giòng nước chảy ( Truyện và Thơ, xb 2012 )
. Sắp xuất bản:
– “Tình Yêu Nuôi Tôi Lớn” (Đức ngữ)
– “Tập thơ “Chỉ Đơn Giản”
– Tập truyện ngắn “Kẻ Té Giếng”
– “Có Những Điều Không Thể Hiểu”
– ” Coi chừng mình mất nước như chơi – (Song ngữ Đức Việt ).
– Tiểu thuyết “Gối Lụa”.
Có và Không.
Cho nên tôi thấy, không phải chỉ VN hay những nơi khác mới cần bàn tay đóng góp mà ngay nước Đức cũng đầy dẫy thảm trạng cần bàn tay xây dựng của chúng ta. Người Đức gốc Việt. Đó là ngụ ý của bài viết này. Chân thành cảm ơn độc giả.
Những Ngôi Mộ Gió.
À ơi …
Sóng trùng trùng người đi ra biển
Người đi thì có à ơi….người về thì không
Mộ ai trống gió bên đồng
Anh đi ra biển, sao không thấy về?
Hoàng Sa hòn đảo cận kề
Ngư dân đánh cá đem về nuôi con
Anh đi em hãy còn son
Sao không về nữa, em còn chờ ai?
Nhớ anh nước mắt chảy dài
Xác anh đâu thấy, mộ này thắp nhang
Ngư dân sống kiếp cơ hàn
Nay thêm mộ gió bàng hoàng nỗi đau
Đông về giá buốt đêm thâu
Thương cho số kiếp khóc sầu dân ta!
Xác anh trôi giạt phương xa
Về ngôi mộ gió là nhà tưởng anh.
Khóc cho vơi phận cũng đành
Nỗi đau mất mát Hoàng Sa, ai ngờ!
Võ thị Trúc Giang Lúa 9
20 Dec 2011
(Cảm tác sau khi xem youtube “Hoàng Sa Việt Nam: Nỗi đau mất mát” của André Menras)
Gối lụa không mềm bằng gối tay anh.
Cuối tuần được ở nhà, đủ thứ chuyện phải lo, khi đêm khuya vắng vẻ mới là lúc mình sống cho mình thật sự. Ngồi đọc lại những thư anh gửi, Tình thấy thương anh nhiều hơn, hiểu anh nhiều hơn, bây giờ sau 33 năm, nghe anh giải thích: “Anh nói đã ra Rạch Giá nằm chờ vượt biên chỉ là nói DỐI để cho em có can đảm ra đi”. Trời ơi, thật thế sao anh? 33 năm dài em tưởng anh giấu em khi anh trốn đi một mình, bỏ em ở lại – Anh có biết ấy là lý do em bỏ anh đi lấy chồng hay không? Chứ yêu nhau ai nỡ lòng nào phụ nhau? Ôi một sự hiểu lầm tai hại của tuổi trẻ.
Nay hiểu lòng anh thì đã muộn màng rồi, duyên số hai đứa đã lỡ nay biết làm sao đây? Làm sao quay ngược dòng quá khứ chứ? Ôm quá khứ sẽ đánh mất Hiện tại và Tương lai – Tình biết như thế. Nàng không muốn mang mặc cảm tội lỗi với chồng – Còn nếu bảo không nhớ anh Quá Khứ, thì chính mình lừa dối mình, càng sống trăn trở ray rứt nàng thấy ngực mình đau nhói. Cái đau âm ỉ – Khúc khắc ho, lồng ngực lại đau ran, nhớ lần nằm viện kỳ rồi, bác sĩ cấm không cho nàng thức khuya. Nhưng nàng thích làm việc về khuya, ngoài mình ra không có ai, bạn mình là ngọn đèn, bóng tối và ngòi bút.
Nhớ lời hứa, từ khi anh tìm lại mình, Tình nhất định thức đêm để thực hiện truyện tiểu thuyết Gối Lụa làm một món quà kỷ niệm mối tình đầu để tặng riêng cho người yêu tên Quá Khứ – Nàng nghĩ, vào lúc cuối đời người, trước khi lìa bỏ cõi đời, nàng muốn cho chàng hiểu lòng mình, thì khi có nhắm mắt mình mới bình an chuộc tội. Bỗng ký ức sống lại bao trăn trở của cô thiếu nữ lang thang xứ người năm 1980 tại bắc Âu – Thời ấy, cô con gái trẻ đối diện bao khó khăn, phải chiến đấu với mình – chiến đấu với trường học – với trường đời – với cuộc sống mới và khó nhất là thắng với chính bản thân mình. Giữ gìn và chờ đợi anh đến ngày hai đứa làm đám cưới. Ngày cưới của họ chờ đợi không bao giờ có vì hiểu lầm nhau.
Chiếc áo cô dâu đem treo trước gió
Chiếc gối lụa là hơi ấm người ta
Ngày lên xe hoa tìm phương trời đó
Để lại cho người Tình lỡ làm quà.
Tuổi trẻ – khi đứng trước ngã ba đường, lòng phân vân không biết cái nào mang đến cho ta hạnh phúc thật sự – Năm ấy, vì xa nhau quá lâu, vật lộn với hoàn cảnh mới, nàng không thể nào hiểu rõ để thông cảm hoàn cảnh khó khăn của người yêu mình đang sống bên Mỹ, xa nhau, nàng đâm nghi ngờ tình yêu của anh, nên nghĩ, thà gạt nước mắt đi lấy chồng, tìm quên. Nàng bỏ rơi người yêu cũ – nàng viết cho anh cả chồng thư, những lá thư không bao giờ gửi. Đốt tàn tro. Cô Tình không còn can đảm gửi thư cho anh nữa, hy vọng rằng làm con trai nghị lực như anh, con trai sẽ dễ dàng quên hình bóng người tình cũ. Nào ngờ, tình yêu đầu đời nó khắc sâu trong tâm khảm, nó hằn lại vết thương trong trái tim người con trai đó. Nàng đâu có ngờ đàn ông cũng đau khổ vô cùng khi đánh mất người yêu như vậy! Thế mà xưa nay Tình vẫn tưởng – đàn ông là vô tình, đàn ông thay tình như thay áo – thiếu sự thủy chung – chỉ có phận nữ nhi khi yêu mới thường bị thiệt thòi mà thôi.
Cô Tình thời đó mới rời vòng tay cha mẹ, rời quê hương, rời lối giáo dục Đông Phương, mang quan niệm – khi trao thân cho người đàn ông đầu đời, tức sẽ lấy người đó làm chồng. Và em sẽ không để quá 24, 25 tuổi, sợ lỡ thì, sợ thành gái ế – Quan niệm sống của một cô gái Việt với lối giáo dục Đông phương sống tại xứ bắc Âu xô bồ năm 1980 cổ lỗ sĩ quá anh nhỉ – Nay nhìn lại quả thật chả biết nên cười hay khóc nữa. Anh có biết không, khi ấy, nhìn chiếc áo cưới treo ở góc phòng lòng em nát tan – nhưng lúc đó vì hoàn cảnh con gái độc thân không cha không mẹ, chỉ trong vòng 3 năm tỵ nạn thôi mà gia đình em gánh chịu 2 cái tang. Đau buồn tưởng như đời người chịu không nổi. Người yêu thì biền biệt. Cô Tình khi ấy cần một lối thoát thân! Cần phải giã từ một dĩ vãng lắm nước mắt khi nhớ anh, em muốn mạnh dạn ngửa mặt sống với đời. Thôi sầu não. Thôi nhớ nhung. Làm lại một cuộc đời mới. Em tưởng rằng mình đang trả thù anh đấy vì nhớ câu nói năm xưa khi nằm bên nhau: “Đừng ép tui cưới tui sẽ không cưới đâu đó ” – đừng dọa em, anh chờ xem nhé, khi tình thế thay đổi, em sẽ đi lấy chồng thì anh đừng có tiếc – Và đúng thời điểm đó, anh Hiện Hữu đã xuất hiện như một cái phao cho em bám và trở thành chồng em. Lo lắng cho em, sống cạnh em – Nào ngờ, chính em vật vã bao năm trường vì không thể quên được người yêu cũ – Người ta thường nói, khó mà quên được mối tình đầu, quả thật không sai chút nào, anh Quá Khứ nhỉ ?
Anh biết không,
Thuyền em tìm bến đậu rồi
Chòng chành theo nước – sóng bồi ngoài khơi
Đêm về mộng mị anh ơi
Nằm mơ em thấy anh rời – rời xa.
Trong khi sống đời tỵ nạn bên Hoa Kỳ, Quá Khứ cũng vật lộn không kém với cuộc đời mới, bao khó khăn để vươn lên từ con số không. Chàng muốn xây dựng một tương lai vững chắc trước khi lập gia đình với người yêu. Nhưng kể từ năm 1980 bỗng dưng mất liên lạc với người con gái đã từng nói lời thương, lời yêu, lời ngọt ngào, khuyến khích với mình, chàng hoang mang, tức tối, hờn dỗi. Chàng bắt đầu nhìn đời bằng con mắt không còn yêu đời lạc quan như khi còn có em bên cạnh nữa, chàng nhìn những cô con gái khác bằng con mắt nghi ngờ, cay đắng, khinh rẻ, vì người ta đã ham phú phụ bần, đã bỏ mình như bỏ một chiếc áo rách!
Tình Ơi em đang ở đâu?? Em có biết rằng anh nhớ em?
Hoa đầu mùa bao giờ cũng đẹp
Nắng đầu mùa bao giờ cũng say
Mối tình đầu bao giờ cũng hay
Rất đậm đà, nhưng cũng rất đắng cay!
– Tình Ơi, nay em đang ở đâu, có thấu lòng anh chăng? Em có biết ở trên cùng một bầu trời chỉ còn nỗi nhớ của hai ta. Nhưng định mệnh cho đến nay 33 năm sau vẫn cay nghiệt, chưa cho họ gặp gỡ. Đời của họ bỗng bấp bênh thêm từ đó. Cô Tình và anh Quá Khứ như hai bóng ma của dĩ vãng, một-kẻ-đi-trốn-và-một-kẻ-đi-tìm.
Quá Khứ ơi, tại sao người về để làm gì cho gây thêm cảnh trái ngang. Có phải người về để chế ngự trái tim tình yêu ngày cũ? Người về để chiếm hữu lại cái gì đã vuột khỏi tầm tay mình bao năm qua – hay người về với lý do gì?? Tình yêu của người còn bền bỉ mạnh mẽ đến thế sao?? Có phải vì không tin tưởng tình yêu dành cho nhau, nên họ đã lỡ đánh mất nhau?
Mới tháng 10 mà trời vào thu lạnh, lá đã khô héo, rụng bay tơi tả đầy sân, Tình đi âm thầm như chiếc bóng dưới hầm nhà mình, lặp lại động tác như cái máy, nàng cho thêm củi vào lò sưởi, khuấy cho lửa bùng lên cho ấm cõi lòng giá băng. Nhìn ngọn lửa bốc cháy, làm chợt nhớ người yêu mình năm xưa, khi mình bệnh, đêm ấy anh không ngủ, chạy tới chạy lui canh lò củi cho người yêu ấm. Trời hôm đó cũng lạnh như hôm nay, cơn mưa dai dẳng rớt lộp bộp trên mái tôn nghe thật buồn.
Năm ấy, trong căn nhà trọ, trời cũng mưa và lạnh như hôm nay. Bị cảm lạnh Tình phải nghỉ học, nằm mê man trên chiếc giường nhỏ xíu đơn sơ, anh Quá Khứ lo lắng. Hai đứa nằm ôm nhau trong căn nhà trọ, chuyền hơi ấm cho nhau, nhưng chàng luôn giữ vững ý chí dằn lòng ham muốn, thì thào vào tai em:
– Hai đứa mình chờ đến ngày cưới nhé Tình Ơi….
Nhớ đến đây, ngày cưới của họ đã không bao giờ có xảy ra. Ray rứt. Tình thấy tim mình như nhói đau, mắt nhìn trân trân vào ngọn lửa nhảy múa, thấy hình bóng người yêu năm xưa, mắt nàng mờ đi vì dòng lệ chảy. Anh đâu rồi?? Nàng mong sao cho tất cả chỉ là một cơn ác mộng. Ác mộng bao giờ cũng đến rình rập kéo họ xa nhau, tựa cơn ác mộng năm xưa, lúc anh Quá Khứ cong lưng đạp xe đưa nàng về quê năm ấy. Lần chia tay đó là lần cuối cùng hai người gặp nhau. Lúc ấy, ngồi sau xe, vòng tay ôm ngang eo ếch người yêu, dúi đầu vào lưng anh, nàng thầm cầu mong như vậy, mong là, tất cả chỉ là cơn ác mộng, không có thật, tỉnh ra tất cả sẽ như cũ, vẫn anh còn bên em, vậy mà…anh đâu rồi? Định mệnh đã an bài cho hai kẻ yêu nhau đến phút đó rồi thôi sao? Ta mất nhau vĩnh viễn sao?
– Ma’am, We have arrived safely – We are in LA.
Một cô tiếp viên hàng không đang cúi mặt thật gần, tay cô đang lay nhẹ vào vai của Tình, nét mặt cô tỏ vẻ lo lắng, hỏi:
– Are you ok Ma´am?
Thiếu phụ Việt giật thót người, mở choàng mắt ra nhìn dáo dác xung quanh, trên máy bay các hành khách đang bận rộn đứng lên lấy hành lý, họ sửa soạn lần lượt xuống máy bay. Nước mắt còn đọng hoen mi, Tình choàng người nhìn ra cửa sổ, dáo dác, nàng nhìn cô tiếp viên, nhìn quanh quất, muốn hỏi:
– Quá Khứ đâu rồi ? Anh mới đây mà, anh đâu, hứa đón em, mà sao không đến ?
Nhưng chẳng ai nghe thấy, tất cả dửng dưng xa lạ, nàng bàng hoàng nhớ lại giấc mơ chập chờn trong chuyến bay. Trong giấc mơ nàng thấy người yêu từ xa xa, đúng là anh mà – nàng nhận ra dáng anh, mừng quá đổi, Tình muốn chạy nhanh đến ôm chầm lấy người yêu, sau bao nhiêu năm cho thỏa lòng thương nhớ, nhưng ơ kìa – Quá Khứ ơi … anh điềm nhiên như không thấy, anh bận rộn kéo valise đi thẳng, cạnh bên anh là một người phụ nữ xinh đẹp và hai đứa bé, Tình đoán là vợ con của chàng – Tình đứng yên mặc cho nước mắt chảy. Ôi thèm làm sao vòng tay ôm ngày cũ, ngày anh còng lưng đưa em về lại quê xưa, ngang qua phà Rạch Miễu, gió sông Tiền Giang lồng lộng, bóng chiều tà ngã xuống bờ vai. Ngồi phía sau xe đạp mini, nàng choàng tay mình lần mở cúc áo người yêu, da thịt chàng thật ấm, rươm rướm mồ hôi. Tình áp má mình sát vào lưng anh, hít ngửi mùi thơm người yêu vào đầy buồng phổi – Để biết rằng đây là lần cuối cùng bên anh, biết bao giờ gặp lại. Vòng tay ngày ấy nàng xiết chặt vòng eo của anh, vậy mà bao năm rồi còn nhớ…
Vậy mà ngay phi trường quốc tế nơi xứ người anh tàn nhẫn quay đi. Ôi nhớ, nhớ vòng eo của anh ngày ấy quá đi. Chỉ muốn chạy tới sờ vào eo của anh thôi – ngửi chút mùi hương cũ của anh thôi, cũng đủ một đời rồi, nhưng anh Quá Khứ quay lưng biến mất vào làn sóng người đang vội vã. Để nàng đứng một mình chơ vơ – Anh quay đi như trả sự bình an cho nàng yên phận, chồng con. Cho vừa lòng sự phụ bạc của nàng ngày cũ – Đành chấp nhận sự thật phũ phàng, cô Tình xưa lặng lẽ kéo giỏ hành lý bỏ lên xe, cái valise nặng trĩu tâm tình của mình. Lần này nàng chuẩn bị ra mắt tập Gối Lụa, nàng muốn rao bán cho đời biết về một cuộc tình dở dang của hai kẻ yêu nhau trong quá khứ, yêu-nhau-mà-bỏ-nhau, những lỗi lầm thời son trẻ khiến họ đã đánh mất nhau mãi mãi.
Một mình lầm lủi, Tình thấy nhớ sao là nhớ Quá Khứ, nhớ ngày xưa trong căn nhà trọ, nhớ lần mình bị cúm nặng, sốt mê man, phải bỏ học mấy hôm. Ngoài giờ học, Quá Khứ ghé qua nhà trọ thăm người yêu đang bệnh. Cơn sốt làm má nàng đỏ ửng, mê man. Đêm về chàng nán lại để chăm sóc, anh sợ nếu mình bỏ về thì không ai lo lắng. Đêm đầu tiên bị sốt, nàng rên khẽ:
– Em lạnh quá anh Quá Khứ ơi, ôm em đi.
Trên chiếc giường chật chội, đơn sơ, chàng nằm ôm sát vào người nàng hơn, cố chuyền hơi ấm cho người mình thương, cảm thấy người nàng run nhẹ vì lạnh, da thịt nàng nóng bỏng trong tay mình. Anh chàng lo lắng, bèn nẩy ra sáng kiến – bê nguyên cái lò ông táo đến sát cạnh giường, chẻ củi đốt lên làm lò sưởi cho cô nàng ấm. Đêm đó trời mưa dai dẳng, mái nhà dột, củi ướt mèm, khói bay um tùm. Căn nhà trọ, nền đất ẩm thấp, vách ván mỏng manh, mái tôn xiêu vẹo, mưa kêu lộp bộp trên mái nhà, nghe buồn não nuột, người yêu thì cảm sốt mê man, kêu lạnh. Chàng xót xa. Thương em quá, anh canh chừng bếp củi cho nàng ngủ. Chốc chốc phải chồm lên chêm thêm củi vào quả lò ông táo nhỏ xíu, sợ củi ướt làm lửa tắt ngúm. Củi ướt, chàng lại phùng má thổi, quạt quạt, bốc khói, lửa bùng lên – Cứ thế, chàng thức đêm canh lửa. Cho em ấm. Sáng dậy, mặt chàng bơ phờ, thay áo đi học, mặt người yêu có vẽ tỉnh táo hơn chút, vẫn nằm bệnh trên giường, anh vuốt ve tay nàng, nói:
– Em nằm nghỉ, anh đi học, tan học anh lại ghé qua nhé.
Nàng gật đầu, nét mặt xanh xao nhìn anh áo trắng đi khuất sau cánh cửa gỗ khép lại. Thấy thương anh vô cùng. Cậu con trai mới lớn 20 tuổi đã biết lo lắng cho người yêu. Sang ngày thứ hai cơn sốt của cô nàng đã dịu xuống, hai má nàng bớt đỏ ửng, anh lấy thuốc đưa cho người yêu uống. Nhìn sự ân cần của anh, ngắm bàn tay nhỏ nhắn của anh, Tình bỗng nghĩ rằng “Trông anh như là chàng doctor lo lắng cho bệnh nhân ấy nhỉ “. Tình biết, anh có một giấc mơ “Anh muốn ra trường Doctor “.
Đêm về, thấy nàng đã đỡ hơn, anh nói:
– Thôi anh về nha, em nghỉ cho khỏe, mai anh lại sang thăm.
Nghe anh về, sợ trộm, sợ trống vắng quạnh hiu, Tình hoảng hốt nũng nịu, nắm tay anh giữ lại:
– Không, em không cho anh về đâu, ở một mình đêm về hay có tiếng chân ai đi trên mái tôn, em sợ lắm. Ở lại bên em (nàng muốn nói, em không muốn rời xa anh chút nào hết, nhưng yên lặng). Chàng chiều lòng người yêu – hai người lại nằm ôm nhau trên chiếc giường con nhỏ xíu. Quá Khứ thấy nàng đã đỡ bệnh, anh mừng thầm, nói:
– Để anh lấy gối chêm cho em nằm đỡ mệt nha (tính nói thêm, để anh đỡ tê tay nữa, nhưng im không nói).
Cô Tình chẳng nói chẳng rằng, nàng thèm rúc đầu vào cánh tay anh, dựa sát vào ngực anh tìm hơi ấm. Quá Khứ chìa cánh tay mình cho người yêu gối tạm, hơi ấm của chàng tỏa sang, nàng thấy dễ chịu, và dần chìm vào giấc ngủ bình an, thật nhanh, khỏe khoắn. Bên anh nàng thấy mọi sự êm đềm che chở. Chàng nghe tiếng người yêu thở nhẹ đều, anh thiếp đi vào giấc ngủ. Bình an. Có nhau.
Đêm về khuya, chàng thấy cánh tay mình tê cứng, rần rần như trăm ngàn con kiến đang bò cắn lổn ngổn thịt da mình, bếp lửa đêm nay lạnh tanh, mắt chàng díu lại mệt mỏi mất ngủ cả đêm qua vì lo canh lửa cho em – chàng vẫn nằm yên chịu trận – dưới ngọn đèn dầu loe lét, anh ngắm người yêu đang ngủ say, sợ nếu mình rút tay đi, nàng sẽ thức giấc, người ốm cần ngủ cho mau lại sức – Ôi giấc ngủ thần tiên mộng mị, em mơ gì đấy em ơi – Cô Tình bỗng cựa mình ngáy ngủ, choàng tay qua ôm chặt vào eo người yêu, thì thầm như đủ cho chàng nghe:
– Em không cần anh lấy gối cho em nằm đâu, em thích gối đầu trên cánh tay anh thôi, vì Gối Lụa Không Mềm Bằng Gối Tay Anh.
Nàng mỉm miệng cười áp má vào tay người yêu, rồi chìm vào trong giấc mộng mị, còn chàng Quá Khứ thấy tay mình tê cứng.
Võ thị Trúc Giang Lúa 9
(Trích tiểu thuyết “Gối Lụa”)
Phong trào đấu tranh Bông Hồng Trắng thời Quốc Xã.
(Widerstandgruppe Der weiße Rose)
Bông Hồng Trắng là tên của một “nhóm kháng chiến” tại Munich dưới thời kỳ Đức Quốc Xã – NZ. Tháng 6 năm 1942 Phong trào “nhóm kháng chiến” được thành lập và kéo dài đến tháng 2 năm 1943. Các thành viên của Phong trào Bông Hồng Trắng đã lén lút soạn thảo tài liệu, in ấn rồi rải truyền đơn bất kể nguy hiểm đến mạng sống chính mình, trong những tờ truyền đơn đó kêu gọi đứng lên chống lại nhà độc tài Đức Quốc Xã – NZ.
Phần lớn người khởi xướng của Phong trào Bông Hồng Trắng (BHT) là những người trẻ tuổi dũng cảm, trí thức yêu nước, bất kể gian nguy âm thầm hoạt động cho đến khi bị công an Quốc Xã bắt giam, tra tấn rồi xử tử. Trong số những vị đó, có chị em Hans và Sophie Scholl, cùng sự hỗ trợ của Christoph Probst, Willi Graf và Alexander Schmorell, ngoài ra còn có ông giảng sư đại học Kurt Huber và nhiều nữa…
Ý nghĩa sâu xa hơn nữa về hoạt động phong trào nhóm BHT là nối kết với nhiều thành phần lại với nhau vào chung nhóm kháng chiến chống độc tài Hitler, như nhà đạo diễn phim trường Falk Harnack, ông kiến trúc sư Manfred Eickemeyer. Trong văn phòng kiến trúc của họ trở thành nơi tụ tập của đảng viên phong trào đấu tranh BHT, từ đó chị em của Scholl vào sinh hoạt nội bộ, cũng kể đến ông bán sách Joseph Söhngen, đã dùng cái hầm của mình để dấu diếm những tài liệu mật truyền đơn. Đa số các thành viên của nhóm kháng chiến BHT này xuất thân từ thành phần thanh niên trẻ trí thức năng động yêu nước rất hăng say hoạt động.
Khởi xướng và Mục đích
Nhóm kháng chiến BHT ra đời dưới sự chỉ đạo của nhóm người theo đạo Công giáo, thành lập để tìm cách chống đối kẻ cầm quyền tàn nhẫn, dã man đối với người dân Do Thái khắp nơi. Rất đông đảo người Đức chống lại Đức Quốc Xã NZ gia nhập phong trào BHT này, họ đã ngầm lén lút giúp người Do Thái thoát cái chết kinh hoàng ngay cả tại Ba Lan, Đức, Hà Lan, Pháp.
Hoạt động
Rút kinh nghiệm từ chiến trường trong thế chiến thứ II, tin tức NZ giết người hàng loạt từ Ba Lan, Xô Viết, thì nhân dân Đức thấy không thể nào ngồi yên để chỉ Đọc và Viết về những nỗi kinh hoàng đang xảy ra như cơn ác mộng đó nữa. Họ thấy là giờ hành động đã điểm cần phải đứng lên để giải thể chế độ độc tài, giải oan cho bao người dân vô tội.
Tháng 6 năm 1942 hai người Alexander Schmorell và Hans Scholl gặp gỡ. Những tờ truyền đơn được họ thảo viết ra giấy nháp cho đến cuối tháng 7 năm 1942. Những mẩu truyền đơn được in khuôn xong xuôi, nằm hoàn toàn trong vòng bí mật được gửi qua đường bưu điện đến những vị trí thức trước tiên vùng Munich. Mùa Đông năm đó phong trào BHT do Sophie Scholl và Willi ngày càng phát rộng đông đảo quần chúng tham gia.
Cuối tháng 7 năm 1942 vì bị bắt thi hành nghĩa vụ quân sự nên những sinh viên trẻ này vắng mặt một thời gian. Khi quay trở về từ chiến trường Xô Viết và tìm liên hệ với các đảng viên phong trào lật đổ khối NZ – Hitler là tên đầu não lợi hại. Những tờ truyền đơn lại tiếp tục soạn thảo “Lời kêu Gọi Tới Toàn Dân Đức “. Thời điểm này theo phỏng đoán chừng 9000 tờ truyền đơn được những người đưa thư âm thầm làm giao liên rải ngay tại nước Đức và Áo.
Cuối năm 1943 thì cuộc thảm sát tại Stalingrad chấm dứt. Gần 230.000 người lính Đức bị trận vong, hơn 1 triệu người lính Nga chết. Thua trận tại Stalingrad là động cơ thúc đẩy phong trào lật đổ Hitler ở các xứ Âu châu càng mạnh mẽ. Lính Đức cảm thấy sau lần thất bại, sức mạnh nay rệu rã, tinh thần chiến đấu lung lay. Điều này rất có lợi cho các đảng viên nhóm kháng chiến BHT và un đúc ý chí vụ rải truyền đơn đợt thứ 6 dưới danh nghĩa “Hãy đứng lên các bạn sinh viên thân yêu ơi!“
Cùng lúc đó ở các thành phố khác bạn bè lên tin thần phấn khởi tập họp từng nhóm nhỏ liên lạc nối kết đồng loạt rải truyền đơn, yểm trợ phong trào đấu tranh lật đổ độc tài Hitler tàn ác dưới các khẩu hiệu như: “Giải thể độc tài Hitler” và “Tự Do”, những khẩu hiệu này được vẽ treo trên bức tường khuôn viên đại học và các khu phố khác khắp Munich. Alexander Schmorell, Hans Scholl và Willi Graf đã gióng tiếng nói anh dũng của giới trẻ yêu quý Tự Do Dân Chủ.
Bị bắt và kết án tử hình.
Đợt rải truyền đơn thứ 6 này vô tình đã mang đến cho những tấm lòng tha thiết yêu quê hương một bản án ập lên đời họ. Hàng ngàn truyền đơn dự định sẽ rải tại khu đại học Munich nhưng bất hạnh cho họ, tên quản gia đại học phát giác và tố cáo họ với tội phản động.
Những người trẻ yêu nước bị đem ra hành xử trước tòa và bị kết án tử hình. Ngày 22 tháng 2 năm 1943, anh em Sophie và Hans Scholl đã hy sinh.
Kurt Huber, Willi Graf và Alexander Schmorell cũng lâm vào hoàn cảnh đáng thương, họ bị chặt đầu vào ngày 13 tháng 7, 1943.
Quân Quốc Xã – NZ đã nhiều lần cố ý tra tấn để các đảng viên này khai báo về hoạt động bí mật của phong trào BHT, nhưng vô ích. Thà họ cắn răng chịu chết chứ không để lộ tung tích hoạt động của đảng mình, vì khi mình chết đi phải bảo vệ mạng sống thành viên còn lại đế tiếp nối đường đấu tranh.
Hình thức rải truyền đơn có ý nghĩa gì ?
Rải truyền đơn là một hình thức phát biểu tư tưởng của mình về tình hình chính trị hiện thời, để nói lên ý chí phản đối nhà độc tài đương nhiệm. Người ta dùng truyền đơn làm phương tiện nối kết liên lạc kêu gọi hợp quần lại với nhau vào cuộc kháng chiến đem lại lợi ích chung. Viết truyền đơn, mua giấy in, và in ấn, vận chuyển, cất giấu…Tất cả đều tốn kém tiền bạc thời gian và nguy hiểm. Qua những tờ truyền đơn như thế bất kể vào thời điểm nào, mỗi quốc gia những người yêu nước đều cần đến mẫu truyền đơn làm phương tiện để đấu tranh.
Chúng ta nghiêng mình tưởng nhớ công lao họ, nhờ giọt máu họ đã chảy ra dân Đức nói riêng và nhân dân Âu châu ngày nay mới có được đời sống dân chủ – tự do – công bằng – bác ái – thịnh vượng.
Hôm nay ngày 13 tháng sáu, 2012 tại Moskau mặc dù bị mạng lưới công an đe dọa trù dập nhưng hàng trăm ngàn người Nga tràn xuống đường biểu tình phản đối chính phủ độc tài gian lận Putin, họ phát biểu: ” Nhân dân chúng tôi không còn sợ hãi nữa, hãy trả nước Nga lại cho người Nga, nước Nga sẽ thanh bình hơn nếu không có Putin – Chúng ta hãy đấu tranh, đừng để cho chúng đàn áp lòng ham muốn dân chủ của nhân dân – Wir werden weiter zu Protesten kommen, denn wir brauchen Freiheit.”
Người Việt chúng ta hãy noi theo gương họ – hãy cùng đứng lên gióng tiếng nói Tự do Dân chủ – Hỡi toàn dân Việt Nam yêu nước – hãy âm thầm rải truyền đơn – hãy tràn xuống đường biểu tình như bên Moskau, đừng sợ hãi, chớ rụt rè sợ sệt trước sự độc tài đảng trị đầy dẫy bất công. Hỡi toàn dân Việt nam yêu dấu.
Võ thị Trúc Giang Lúa 9
June 2012
Nguồn: Die Weiße Rose war der Name einer christlich motivierten Widerstandsgruppe in München während der Zeit des Nationalsozialismus. Im Juni 1942 wurde die Gruppe gegründet und bestand bis zum Februar 1943. Die Mitglieder der Weißen Rose verfassten, druckten und verteilten unter Lebensgefahr insgesamt sechs Flugblätter, in denen zum Widerstand gegen den Nationalsozialismus aufgerufen wurde.

