
Nguyễn Lê Mộng Tuyền is a Senior Manager Software Consultant for the global-wide software consulting company called Sogeti. She graduated from Arizona State University with BS degrees in Accountancy and Information Systems, and a minor in Spanish. She also received her MSIM (Master of Information Management) in 2007. She is the founder, publisher, and editor-in-chief of a 12 -years-old non-profit organization that produces the monthly Vietnamese culture magazine “Bút Tre”. She finds joy in doing volunteer work. On her time off, she plays the piano and sings with a local band for weddings and concerts. Other fun things she enjoys doing includes being an amateur photographer.
Vấn đề thách đố của văn chương Việt Nam hải ngoại
MỘT VÀI CON SỐ THỐNG KÊ
Bác sĩ Mai của nhà sách Tự Lực tại California đã cho biết:
- Số lượng xuất bản cho mỗi tác phẩm: từ 500-1,000 quyển
- Sách do ai xuất bản: 50% do nhà xuất bản in ấn, 50% còn lại do chính tác giả xuất bản
- Độc giả tìm đến với một quyển sách mới nào đó qua quảng cáo trên radio, trên đài TV và báo chí. Thứ nhì là qua lời giới thiệu của thân hữu hoặc của chính tác giả.
- Người mua sách thường ở lứa tuổi nào? 75% từ trung niên trở đi, 25% là người trẻ. Trong số 75% lớn tuổi, khoảng 40% ở lứa tuổi 30-50, và 60% còn lại từ 50 tuổi trở đi.
- Nhà sách Tự Lực phân loại các quyển sách bán chạy nhất như sau: thứ nhất là sách nói về chính trị – những quyển dạng như hồi ký, ký sự, nói về chiến tranh Việt Nam. Thứ nhì là sách thường thức xã hội. Thứ ba là văn học và tiểu thuyết – trong đó những quyển sách cũ của Tự Lực Văn Đoàn được độc giả lùng mua rất nhiều.
VẤN ĐỀ
Ta phải công nhận ngay, các tác phẩm văn học ngày nay không tìm được độc giả. Trong khuôn khổ hạn hẹp của phần thuyết trình này, tôi chỉ xin phép nêu ra một vài dẫn chứng chính. Thứ nhất, số lượng xuất bản nhỏ. Như ta vừa được biết theo con số thống kê của nhà sách Tự Lực thì sách có số lượng xuất bản từ 500 đến 1,000 quyển. Thứ nhì, sách tặng cho thân hữu nhiều hơn bán. Thử hỏi có quý tác giả nào đã chưa từng tặng sách? Tôi xin lấy tạp chí Bút Tre làm ví dụ. Tôi thích cho rằng tạp chí Bút Tre là những tiểu tác phẩm có chút giá trị. Người ta lượm báo ở chợ rất nhiều. Báo ra hôm trước, hôm sau có thể người ta đã lấy hết ở những cơ sở thương mại có đông khách. Nhưng, nếu bán chắc chắn sẽ không có người mua, ngay cả ở giá 25 xu/quyển (chỉ ¼ giá tiền in mỗi quyển báo). Thứ ba, rất ít người nhớ được tên các nhà văn hoặc nhà thơ hoặc các tác phẩm, ngay cả những người đang hoạt động trong lãnh vực văn hoá. Nếu có nhớ thì cũng chỉ là những tác phẩm hoặc người viết vài chục năm về trước. Việc tiệm sách hiếm hoi cũng là một nguyên nhân khiến tác phẩm không có độc giả. Một ví dụ điển hình là tiểu bang Arizona. Bang này có hơn 25,000 cư dân gốc Việt Nam nhưng không có một tiệm sách. Một vài cửa hàng tạp hoá có một góc nhỏ để bày bán sách nhưng không được chăm sóc vì có lẽ không có người tìm mua. Sách được chất cẩu thả và đóng bụi bặm trông rất đáng buồn. Mà buồn hơn là tôi tin AZ cũng không phải là tiểu bang duy nhất không có tiệm sách của người VN.
PHÂN TÍCH
Tôi không có những con số thống kê hoặc tài liệu cụ thể để phân tích lý do vì sao các tác phẩm văn học không tìm được độc giả. Tôi chỉ mạn phép chia xẻ ý kiến riêng qua kinh nghiệm làm việc với một số ít ỏi văn nhân, cũng như từ những gì tôi biết được qua việc làm báo.
Lý do hàng đầu có lẽ là vì áp lực sinh kế ở hải ngoại. Nếu ta lấy thời gian trung bình cần thiết cho việc viết và xuất bản sách một quyển sách và chi phí cũng như thu nhập của nó thì phải chắc lưỡi tội nghiệp cho những tác giả thân thương của chúng ta. Ngoại trừ một số rất ít tác giả có thể kiếm sống được từ nghề này, những người còn lại phải có một nghề tay trái và chỉ viết trong thời gian rảnh rỗi vì quá yêu nghề.
Thứ nhì, tiếng Việt không còn được coi trọng đối với thế hệ trẻ: chỉ cần đủ để nói chuyện là cảm thấy thoả mãn rồi, huống hồ chi đến việc đọc tiếng Việt và sưu tầm những quyển sách có giá trị văn học.
Một lý do khác khiến cho các tác phẩm văn học không được đến với độc giả là việc các phương tiện truyền thông thờ ơ với văn học. Họ chú trọng vào những điều giải trí hơn là giới thiệu và quảng bá các tác phẩm hoặc người viết. Cầm một tờ báo lên thì chắc như rằng ta có thể tìm được những thông tin mới và sốt dẻo nhất về một nữ hoặc nam minh tinh màn bạc Hong Kong nào đó, từ hình ảnh đến bài viết. Nhưng thông tin súc tích về một buổi ra mắt sách hoặc một bài điểm sách thì rất hiếm hoi. Mà việc thờ ơ với tác phẩm không chỉ nằm riêng trong giới truyền thông. Dường như ngay cả trong giới văn chương cũng có sự thờ ơ ấy. Có bao nhiêu người đọc tác phẩm của người khác để học hỏi thêm? Mỗi người dường như một ốc đảo, chỉ viết cho riêng mình.
Những điều trên là tác động và ảnh hưởng không nằm trong sự kiểm soát của tác giả. Nhưng, thái độ của một số người cầm viết cũng phần nào cần được quan tâm. Có người chỉ viết vì… thích viết vì có thể tự bỏ tiền in và xuất bản, đưa đến những tác phẩm thiếu chất lượng. Đâu rồi những câu thơ ngọt ngào như:
“Váy đình Bảng buông chùng cửa võng”
“Chị lắc đầu,
Trông nắng vãn bên sông.”
(Trích “Lá Diêu Bông” – Hoàng Cầm, 1959)
…hoặc là
“Đôi mắt người Sơn Tây
U uẩn chiều lưu lạc
Buồn viễn xứ khôn khuây ”
(Trích “Đôi Mắt Người Sơn Tây” – Quang Dũng)
Trong nhiều tác phẩm ngày nay, ta thấy nội dung thường quanh quẩn những chuyện tạp ghi, ngôn ngữ như là văn nói, thiếu sự sáng tạo tối thiểu. Ngày xưa, để được xuất bản một quyển sách phải qua một quá trình khá phức tạp và đầy tốn kém. Có nhà xuất bản nào lại muốn bị lỗ lã khi in sách của tác giả nào đó? Quyển sách phải có thị trường để tiêu thụ. Nếu không phải là loại sách hấp dẫn cho đa số độc giả bình dân thì cũng phải đặc sắc và giàu tính văn hóa. Sự kiểm duyệt, nhuận sắc, viết đi sửa lại trước khi in sách là một quá trình lâu dài và chông gai, nhưng có lẽ vì thế mà cũng gạn lọc ra được những hạt sạn trong văn chương, chỉ chừa lại những tinh túy của thời bấy giờ?
Ta cũng thiếu những người dám thẳng thắn tỏ thái độ. Điều ấy đưa đến sự dễ dãi trong việc giới thiệu và đánh giá chất lượng của các tác phẩm mới. Đâu rồi sinh hoạt phê bình văn học như thế hệ 1932 với nhà học giả Nguyễn Văn Vĩnh và v.v…? Có lẽ người Việt mình có tính khoan hoà. Dễ hiểu thôi, ai ai cũng thích người khác mến mình chứ có ai lại thích người ta ghét mình bao giờ.
NHẬN XÉT RIÊNG & ĐỀ NGHỊ GIẢI PHÁP
Chia sẻ những điều trên là để phân tích vấn đề, chứ đọc vẫn luôn là một nhu cầu. Có nhiều bạn trẻ vẫn ham đọc sách. Ngoài ra, trên các diễn đàn trên Net, ta vẫn nhiều bạn trẻ vẫn trích dẫn những câu thơ hoặc văn VN. Điều này cho ta thấy các bạn vẫn cảm thấy rung động với cái đẹp trong ngôn ngữ Việt. Ngoài ra, đưa ra các vấn đề trên không phải là để chê bai hoặc chỉ trích nền văn chương VN Hải Ngoại. Ta phải công nhận và vui mừng vì mặc dầu vẫn còn nhiều điều có thể cải tiến, nhưng nền văn chương Hải Ngoại vẫn có những điểm rất khích lệ. Hãy so sánh với số lượng sách xuất bản tại Việt Nam. Với số dân là 80 triệu mà mỗi quyển sách xuất bản trung bình chỉ có từ 1,000-1,500 quyển! Đem so sánh tỷ lệ đầu người cho mỗi quyển sách thì văn chương Hải Ngoại vẫn tươi sáng hơn. Ngoài ra, việc các tác giả tự sản xuất tác phẩm cũng có mặt tốt của nó. Lấy ví dụ: Một ngòi bút mới chưa được sự tin tưởng của nhà xuất bản chắc chắn sẽ có ít cơ hội cho ra mắt sách. Tuy nhiên, việc tự xuất bản sách sẽ cho ngòi bút mới này một cơ hội giới thiệu mình – một cơ hội mà họ sẽ không có nếu không có sự lựa chọn này.
Tuy nhiên, để duy trì và phát huy ngôn ngữ ở hải ngoại ta sẽ phải nhẫn nại và phải có một cái nhìn tích cực qua những hành động thiết thực hơn. Tôi xin mạn phép chia sẻ một vài giải pháp như sau. Thứ nhất, kêu gọi sự hợp tác của giới truyền thông để giới thiệu tác phẩm và tác giả. Đừng bao giờ đánh giá thấp tầm ảnh hưởng của giới truyền thông, bao gồm báo chí, đài radio, TV, và ngay cả mạng Internet. Lấy ví dụ của nữ nhà văn trong nước là Nguyễn Ngọc Tư qua câu truyện ngắn “Cánh đồng vô tận”. Hãy khoan bàn tới giá trị văn chương của tác phẩm này. Chỉ với sự chú ý và lên tiếng của giới truyền thông là báo chí thì đã có rất nhiều người đổ xô tìm đọc. Tôi cũng là một trong những người hiếu kỳ ấy. Riêng trong hàng ngũ những người cầm viết, muốn xây dựng phải có sự đoàn kết. Hãy tôn vinh những tác phẩm hay dù không phải là của mình. Hội Thơ Tài Tử VNHN qua tập thơ Cụm Hoa Tình Yêu đã nêu lên được tinh thần giới thiệu và tôn vinh tác phẩm của người khác. Điều thứ hai, hai chữ “nghệ thuật” đồng nghĩa với sáng tạo. Tôi không được Trời cho tài nghệ để trở thành một văn nhân, nhưng khi phân tích một tác giả, tôi chú ý xem ngoài sự có trách nhiệm với tác phẩm mình ra, văn nhân ấy còn có nỗ lực đừng để lập lại chính mình, hoặc lập lại những gì người khác đã làm hay không. Tôi tin sự sáng tạo của mỗi tác giả sẽ là một bông hoa mới lạ trong cụm hoa văn chương VN. Thứ ba, xin hãy “dũng cảm” phê bình nhằm loại bớt những tác phẩm thiếu giá trị văn chương. Nếu nêu ra một điều hay đã học được ở học đường Mỹ, thì tôi không ngại mà nói rằng đó là sự thẳng thắng bình luận của học sinh với nhau. Người phê bình chỉ ra những điểm cụ thể trong tinh thần xây dựng, trong khi người được phê bình đón nhận từ góc độ chia sẻ thật tình. Trên báo Đông Thanh ra ngày 15 tháng 2 năm 1933, học giả Nguyễn Văn Tố đã viết “…mỗi người vừa là nhà làm sách, vừa là nhà bình phẩm, như thế tức là một cách giúp cho đường học vấn mỗi ngày một tấn tới lên.” Cụ Nguyễn Công Hoan được xem là người đã vạch ra cho độc giả thấy gian ý của Tự Lực Văn Đoàn khi họ lên tiếng kết án cô giáo Minh là bắt chước Đoạn Tuyệt. Đúng hay không? Tôi không biết, mà chỉ dám suy luận tâm lý, nghĩ là trong thời gian ấy, làng văn bút sôi nổi như thế nào, và các tác giả đã cẩn thận từng ly từng tí với tác phẩm của mình. Kết quả của cả phong trào là họ đã để lại thế hệ sau nhiều tác phẩm giá trị.
Nhiệm vụ sau cùng của người cầm bút có lẽ là truyền đạt lại những ý tưởng văn hoá đến thế hệ trẻ. Thiết nghĩ việt tổ chức các cuộc nói chuyện để giới thiệu tác phẩm hay đến các bạn trẻ là một điều tất yếu, cũng như tạo các phong trào nhằm khuyến khích các bạn trẻ tìm hiểu nhiều hơn về cái đẹp của ngôn ngữ Việt và văn học Việt Nam. Một người bạn không phải là văn nhân hay nghệ sĩ, mà chỉ đơn thuần là một độc giả tha thiết với văn chương VN, đã chia sẻ: “Các bạn trẻ của anh, nếu bảo tìm đọc một bài thơ hay quyển sách nào đó thì chắc họ sẽ không nhọc công. Nhưng khi được giới thiệu và giải thích ý nghĩa thì các bạn ấy rất lấy làm thích thú. Từ đó, sác xuất các bạn tìm đọc trọn bài tăng lên rất nhiều”. Phải cố gắng nối nhịp cầu và phải nhẫn nại.
Sau những năm tháng theo đuổi văn hoá người từ việc đọc sách, đọc báo chí, theo dõi thông tin trên TV… để đáp ứng nhu cầu hội nhập với cuộc sống mới, và một phần là vì ảnh hưởng bởi những tác động thông tin vĩ đại của Hoa Kỳ, có một ngày tôi bỗng nhiên cảm nhận được sự thiếu vắng trầm trọng về văn hoá, ngôn ngữ Việt trong đời sống mình. Tôi nhìn lên tủ sách khá lớn của mình. Nằm chơ vơ trên đó là khoảng 100 quyển sách Việt ngữ góp nhặt được từ những cuộc họp mặt thơ văn hoặc do ai đó gửi tặng. Trong số đó, chỉ có vài ba cuốn như Mùa Hè Đỏ Lửa của nhà văn Phan Nhật Nam, Ngày Thơ Tình Thơ của Nhã Ca, Những Thiên Đường Mù của Dương Thu Hương là được nhiều người biết đến… Số còn lại… Tôi thôi không dám nghĩ đến nữa.
Nỗ lực của những người mang chiếc áo làm văn hoá ngày hôm nay chính là tài sản vô giá để lại con cháu đời sau. Xin hãy tiếp tục cho vào chiếc rương tài sản này những Truyện Kiều, Chinh Phụ Ngâm, và một Đoạn Tuyệt, Giai Thoại Hồng… để văn hoá và ngôn ngữ Việt tại Hải Ngoại không những được gìn giữ mà còn phát triển mạnh.

